Ung thư tử cung là bệnh ung thư phụ khoa hay gặp ở nữ giới. Bệnh xảy ra bất kỳ độ tuổi nào, thường phổ biến khoảng 45-75 tuổi. Ung thư tử cung hay gặp ở người thừa cân, béo phì, mắc bệnh đái tháo đường, hay sử dụng sản phẩm có chứa estrogen.
Các bác sĩ sản khoa cho biết, xuất huyết âm đạo bất thường là dấu hiệu cần chú ý, thường gặp của bệnh ung thư tử cung. Cần cảnh giác những triệu chứng bất thường như kinh nguyệt ra nhiều, thời gian hành kinh dài hơn hoặc ra máu giưã các kỳ kinh nguyệt.
Tiết dịch âm đạo là điều bình thường đối với phụ nữ tuy nhiên nếu lượng dịch ra nhiều, có màu sắc bất thường đặc biệt là sau mãn kinh phải chú ý dấu hiệu ung thư tử cung. Những phụ nữ đau vùng chậu thường xuyên có thể do khối u to, phát triển; người bệnh thường bị đau hoặc chuột rút. Sự xuất hiện khối u ở tử cung có thể gây chèn ép bàng quang, người bệnh phải đi tiểu thường xuyên hơn, bị đau hoặc gặp khó khăn khi đi tiểu. Có những trường hợp người bệnh tiểu buốt, bí tiểu, xuất hiện máu trong nước tiểu hoặc trong phân. Người bệnh giảm cân không lý do, sút cân nghiêm trọng theo thời gian, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Về nguyên nhân gây bệnh ung thư tử cung, có thể do tình trạng mất cân bằng nội tiết tố, gây tích mỡ thừa trong cơ thể, tăng lượng estrogen. Những trường hợp cần chú ý là người bị rối loạn kinh nguyệt; người có kinh nguyệt lần đầu quá sớm hoặc có quá muộn; người thích ăn nhiều dầu mỡ béo vì chất béo xấu gây tích trữ hormon estrogen làm tăng sinh nội mạc tử cung.
Theo các bác sĩ, phụ nữ bị viêm nhiễm phụ khoa, quan hệ tình dục nên thăm khám tầm soát ung thư tử cung. Có 03 phương pháp hay thực hiện là xét nghiệm Pap Smear; phết tế bào tử cung, soi tử cung và sinh thiết nội mạc tử cung.
Xét nghiệm Pap Smear là xét nghiệm đơn giản, thực hiện bằng cách lấy tế bào bong ra từ lớp niêm mạc tử cung, tiến hành nhuộm, soi dưới kính hiển vi để tìm tế bào bất thường. Nếu xét nghiệm có tế bào bất thường, có thể bị viêm hoặc ung thư tử cung, bác sĩ sẽ thực hiện chẩn đoán bằng soi hoặc sinh thiết nội mạc tử cung. Các bác sĩ cho biết, ở thời gian đầu chị em phụ nữ nên làm xét nghiệm Pap Smear mỗi 6 tháng đến 1 năm. Sau 3 năm nếu các kết quả đều âm tính, tiếp tục làm xét nghiệm này 2 năm một lần cho tới 60 tuổi.
Xét nghiệm soi tử cung được chỉ định khi bác sĩ thấy tử cung xuất hiện những tổn thương bất thường hoặc ở phụ nữ trên 40 tuổi có nhiều nguy cơ. Máy soi phóng đại lên 10-30 lần, kết nối với màn hình máy tính, lưu hình ảnh theo dõi sau này.
Xét nghiệm sinh thiết nội mạc tử cung là phương pháp cho kết quả khá chính xác, bác sĩ tiến hành tách lấy phần mô nghi ngờ có tổn thương tại nơi soi tử cung, đem soi dưới kính hiển vi để tìm tế bào ác tính.
Đối với phương pháp Thin Prep Pap Test là phương pháp xét nghiệm phết tế bào tử cung có độ đặc hiệu, độ nhạy lên đến 100%. Các mô bệnh học lấy từ nội mạc tử cung sẽ không phết vào lam kính để làm tiêu bản như xét nghiệm Pap Smear mà được rửa bằng một chất lỏng trong lọ Thin Prep, sau đó được chuyển đến phòng xét nghiệm xử lý qua đó giúp phát hiện được tế bào ung thư.
Đối với các trường hợp tăng sinh nội mạc tử cung là tăng số lượng tế bào ở nội mạc tử cung cho sự kích thích estrogen quá mức mà không có sự thay đổi của progesterone theo chu kỳ kinh nguyệt. Khi tế bào tăng sinh quá mức ở nội mạc tử cung, tế bào lớp lót càng chen chúc, trở nên bất thường và một số dẫn đến ung thư tủ cung.
Nội mạc tử cung thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt. Ở đầu chu kỳ, estrogen do buồng trứng tạo ra sẽ giúp niêm mạc phát triển và dày lên. Ở giữa chu kỳ, trứng được giải phóng từ buồng trứng (sự rụng trứng), hormon progesterone bắt đầu tăng. Trong trường hợp không có thai, cả estrogen và progesterone sẽ giảm dần. Khi progesterone giảm sẽ tạo ra kinh nguyệt hoặc bong tróc lớp niêm mạc. Khi lớp niêm mạc bong tróc hoàn toàn sẽ là một chu kỳ kinh nguyệt mới bắt đầu. Như vậy, nếu rụng trứng không xảy ra, progesterone không được sản xuất và lớp niêm mạc không bị bóc ra; các tế bào tạo lớp niêm mạc có thể tích tụ và trở nên bất thường. Các bác sĩ chia làm 4 giai đoạn, tăng sinh nhưng cấu trúc vẫn bình thường, tăng sinh và có thay đổi về cấu trúc, tăng sinh không có tế bào dị dạng, tăng sinh có hiện diện tế bào dị dạng, điển hình. Có khoảng 23% tăng sinh có tế bào dị dạng tiến triển thành ung thư tử cung.
Bệnh thường gặp ở người sử dụng hormon trong giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh. Nồng độ cao các hormon sinh dục trong cơ thể liên tục khiến cho nồng độ hormon trong cơ thể không thể thay đổi theo chu kỳ vốn có làm cho nội mạc tử cung tăng sinh liên tục. Tăng sinh nội mạc tử cung cũng có thể xảy ra đối với người có chu kỳ kinh nguyệt không đều, người béo phì. Triệu chứng tăng sinh nội mạc tử cung là máu kinh ra nhiều bất thường, ra huyết bất thường, ra huyết sau khi đã mãn kinh. Trên siêu âm sẽ thấy lớp nội mạc tử cung ở tuổi sinh đẻ dày trên 12mm và lớn hơn 5mm đối với phụ nữ mãn kinh không có sử dụng thuốc thay thế nội tiết. Mặc dù tiến triển thành ung thư khá chậm nhưng bác sĩ cho rằng cần phát hiện điều trị kịp thời. Đối với người mãn kinh có tăng sinh phức tạp, điển hình có thể cân nhắc cắt bỏ tử cung. Các bác sĩ khuyến cáo, nếu phụ nữ dùng estrogen sau mãn kinh cần dùng thêm progestin hay progesteme./.
Quỳnh Anh