Ung thư đại trực tràng là bệnh ung thư gây tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư phổi. Theo báo cáo của bác sỹ Phạm Hoàng Anh – Hà Nội, tại Việt Nam số người mắc ung thư đại trực tràng có xu hướng ngày càng tăng, năm 1991 tỷ lệ mắc là 4,3/100.000 dân, năm 1999 tỷ lệ này là 13,3/100.000 dân.
Ở giai đoạn sớm, bệnh khó phát hiện, người bệnh thường chỉ có những biểu hiện không đặc hiệu như rối loạn tiêu hóa, đầy bụng khó tiêu, phân lỏng hoặc táo bón, có khi lẫn nhầy máu, đau bụng từng lúc. Ở giai đoạn muộn, người bệnh đi ngoài ra máu thường xuyên, có khi có biểu hiện bán tắc ruột hoặc tắc ruột phải nhập viện trong tình trạng cấp cứu.
Ưng thư đại trực tràng nếu phát hiện sớm, điều trị phẫu thuật kết hợp hóa trị bệnh có tiên lượng tốt hơn so với những ung thư khác. Hiện nay, thuốc điều trị đích, kháng thể đơn dòng Cetuximab đang là hy vọng mới đối với người bệnh ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên vấn đề là không phải ai mắc bệnh ung thư đại trực tràng thuốc cũng đều có tác dụng, mà thuốc chỉ có tác dụng điều trị đối với những bệnh nhân có gen KRAS,BRAF thể không có đột biến. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ đột biến gen KRAS dao động từ 35-42%, tỷ lệ đột biến gen BRAF khoảng 6-10%.
Theo nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Kiến Dụ cùng cộng sự của Trường Đại học Y Hà Nội, từ tháng 10/2011 đến tháng 8/2013, tiến hành trên 44 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng tại các bệnh viện tại Hà Nội, Các bệnh nhân này được xét nghiệm gen theo kỹ thuật tách chiết DNA kỹ thuật giải trình tự gen và Scorpion ARMS. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 14/42 (33,3%) bệnh nhân ung thư đại tràng có đột biến Gly12Asp, Gly12Val và Gly13Asp tại colon 12 và 13 trên gen KRAS, 2/42 bệnh nhân (4,8%) có đột biến V600E trên gen BRAF. Kết quả tỷ lệ đột biến gen KRAS và BKAF từ nghiên cứu bác sỹ Nguyễn Kiến Dụ thấp hơn kết quả nghiên cứu của một số nước trên thế giới.
Đột biến gen KRAS, BRAF có vai trò quyết định đáp ứng thuốc điều trị đích ở người bệnh ung thư đại trực tràng. Việc tiến hành xét nghiệm đột biến gen phải được thực hiện ở những labo xét nghiệm hiện đại, chuyên nghiệp.
Một nghiên cứu của Brink và cộng sự năm 2003 cho thấy có mối liên quan giữa vị trí khối u tại đại trực tràng và tỷ lệ đột biến gen KRAS tăng cao khác nhau. Nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Kiến Dụ cho thấy khối u đối với những vị trí đại tràng có tỷ lệ đột biến gen KRAS là 9,5%; khối u ở đại tràng phải là 9,5%, khối u ở đại tràng trái là 19,0%. Đồng thời nghiên cứu cũng không tìm thấy có sự liên quan giữa đột biến gen KRAS, BRAF với các dấu hiệu lâm sàng như đau họng, ỉa máu, tắc ruột, vị trí khối u, mức độ biệt hóa tế bào ung thư.
Để phòng ngừa bệnh ung thư đại trực tràng, mọi người cần thực hiện chế độ ăn lành, nhiều rau trái tươi, ít béo, nhiều chất xơ, ít thịt đỏ.
Tỷ lệ phát hiện sớm ung thư đại trực tràng những năm gần đây tăng lên nhờ thực hiện nội soi. Bác sỹ sẽ sử dụng ống soi mềm, nội soi một phần hoặc toàn bộ khung đại trực tràng, thấy những plyp lành có cuống, bác sỹ cắt bỏ những polyp này để phòng ngừa ung thư.
Nếu thấy cần thiết bác sỹ sẽ sinh thiết khối bướu để xét nghiệm. Những người trên 50 tuổi, nếu có những thay đổi thói quen của ruột, tiêu chảy, táo bón xen nhau. Đau bụng ngấm ngầm, đầy hơi. Phân nhỏ lại hoặc thay đổi độ dẻo, đi cầu ra máu hoặc phân dính máu, người mệt mỏi uể oải, sụt cân, mất máu không rõ lý do đều cần đi khám bệnh sớm./.
Minh Truyền