
Trong khoảng 10 năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu lĩnh vực tế bào gốc. Tế bào gốc là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như sinh học, sinh học tế bào, sinh học phân tử, sinh học sinh sản, di truyền học, y học, dược học, xã hội học. Hiện nay đã có một nền y học mới là y học tái tạo, y học dựa trên tế bào gốc.
Số công trình nghiên cứu tế bào gốc được công bố hiện đang tăng lên rất nhanh, năm 1996 có hơn 4.400 công trình nghiên cứu được công bố (chiếm 0,4% toàn bộ các công trình nghiên cứu toàn cầu); đến năm 2012 đã có gần 21.200 công trình nghiên cứu tế bào gốc được công bố (chiếm tỷ lệ 1% các công trình nghiên cứu toàn cầu). Riêng đối với nghiên cứu tế bào gốc đa tiềm năng cảm ứng, số nghiên cứu được công bố từ 108 bài của năm 2008 lên 1.061 bài vào năm 2012.
Tại Việt Nam, hiện nay đã có 32 cơ sở tổ chức nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc, trong đó có 09 trường đại học, viện nghiên cứu, 20 bệnh viện, viện điều trị và 03 công ty tư nhân cũng đã tham gia lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc. Ngày 03/4/2015 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2015/TT-BYT quy định chi tiết điều kiện, thủ tục cho phép áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh. Theo đó kỹ thuật, phương pháp được nghiên cứu lần đầu tiên ở Việt Nam phải được hoàn thành việc nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, được Ban đánh giá vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Bộ Y tế hoặc Hội đồng khoa học cấp Bộ nghiệm thu, đề nghị cho phép áp dụng và được Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo, Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận kết quả nghiên cứu.
Để hướng dẫn hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tế bào gốc trên lâm sàng tại Việt Nam, ngày 23/6/2014, Bộ Y tế đã có công văn số 3958/BYT-K2ĐT gửi các Sở Y tế, các bệnh viện và Viện nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc, trong đó đề nghị các đơn vị trước khi triển khai ứng dụng tế bào gốc trên lâm sàng phải có các bằng chứng khoa học và kết quả thử nghiệm lâm sàng chứng minh tính an toàn, hiệu quả của trị liệu tế bào gốc trên lâm sàng cũng như đảm bảo lợi ích cho người dân Việt Nam.
Hiện nay có 03 thử nghiệm lâm sàng đã được Bộ Y tế phê duyệt đề cương và hồ sơ cho phép thử nghiệm, triển khai gồm: Thử nghiệm điều trị bệnh thoái hóa khớp gối bằng ghép tự thân hỗn hợp tế bào gốc từ mô mỡ và huyết tương giàu tiểu cầu tại Bệnh viện Nhân dân 115 và Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh; hai là Quy trình ứng dụng tế bào gốc mô mỡ tự thân trong điều trị chấn thương cột sống có liệt tủy tại Bệnh viện Việt Đức; ba là nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu quả ứng dụng tế bào gốc tự thân trong điều trị COPD tại Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh và Bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP. Hồ Chí Minh.
Chúng ta biết rằng các nhà khoa học chia tế bào gốc thành 03 nhóm lớn theo 03 nguồn thu nhận:
1.Tế bào gốc phôi (thu từ phôi).
2.Tế bào gốc nhũ nhi (thu từ thai, cuống rốn, máu cuống rốn).
3.Tế bào gốc trưởng thành (thu từ cơ thể trưởng thành).
Đối với tế bào gốc phôi, hầu hết các quốc gia đều chưa cho phép sử dụng trong nghiên cứu. Đối với nhóm tế bào gốc nhũ nhi, tế bào gốc từ máu cuống rốn có ngân hàng lưu trữ, nghiên cứu sử dụng trong điều trị một số bệnh lý ác tính về máu hoặc một số bệnh tự miễn, Đái tháo đường type I. Đối với nhóm tế bào gốc trưởng thành, tế bào gốc trung mô được nghiên cứu nhiều nhất, với nguồn thu nhận từ tủy xương, mô mỡ. Tế bào gốc tạo máu đang được ứng dụng điều trị các bệnh lý về máu. Tế bào gốc thần kinh, tế bào gốc tim nghiên cứu điều trị các bệnh lý về thần kinh, về tim. Các loại này số lượng tìm thấy trong các cơ quan rất ít, khó phân lập nên chưa được nghiên cứu và ứng dụng rộng như tế bào gốc trung mô. Đối với tế bào gốc vạn năng cảm ứng được tạo thành từ tế bào trưởng thành chưa được đưa vào nghiên cứu lâm sàng do thao tác chuyển từ tế bào trưởng thành sang tế bào gốc có nhiều nguy cơ cho người bệnh.
Một số thách thức trong việc ứng dụng tế bào gốc là hiện nay Luật Máu và Tế bào gốc đang còn trong quá trình xây dựng, các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, quy chuẩn thực hành còn chưa được ban hành đầy đủ; đồng thời nhân lực nghiên cứu về tế bào gốc, bác sĩ điều trị bằng phương pháp tế bào gốc của Việt Nam được đào tạo rất ít, trang thiết bị chưa hiện đại tiên tiến. Các giải pháp như đầu tư nguồn nhân lực, đầu tư công trình nghiên cứu chuyên sâu, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực phòng thí nghiệm nghiên cứu, huy động nguồn tài chính hợp pháp đầu tư cho các công trình nghiên cứu, ứng dụng tế bào gốc, kể cả việc đầu tư chất lượng hoạt động của Hội đồng đạo đức y sinh học đang là vấn đề đáng quan tâm trong việc triển khai nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc trong công tác khám chữa bệnh tại Việt Nam.
Nguyên Khải