
Theo báo cáo của Viện Pasteur Nha Trang năm 2014, kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước của 11 Trung tâm Y tế Dự phòng các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận; cho thấy trong tổng số mẫu nước của các nhà máy nước được xét nghiệm là 3.312 mẫu, có 255 mẫu nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh; 247 mẫu không đạt chỉ tiêu lý, hóa học; 18 mẫu không đạt về các chỉ tiêu vi sinh vật. Đối với giếng đào, trong tổng số gần 417.000 giếng được kiểm tra, có 85,8% đạt tiêu chuẩn vệ sinh.
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả của Đặng Ngọc Chánh và cộng sự của Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh năm 2012-2013 tại 840 hộ gia đình của tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Bình Phước, Tây Ninh, Kiên Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Long An, Cà Mau, Bạc Liêu cho thấy đối với thực hành sử dụng nước tại hộ gia đình, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cho sinh hoạt là cao ( chiếm 54,6% năm 2012 và 83,8% năm 2013), kế đến là sử dụng giếng khoan (chiếm 27,1% năm 2012 và 15,3% năm 2013), tỷ lệ hộ gia đình dùng nước sông hay nước mưa cho sinh hoạt là thấp (dưới 2%). Tuy vậy, một điểm đáng lưu ý là đối với những hộ gia đình có sử dụng nước máy, tỷ lệ cho biết chất lượng nước máy có vấn đề trong quá trình sử dụng là cao, đặc biệt là với những hộ gia đình được khảo sát trong năm 2013 (84,7%), tỷ lệ này trong năm 2012 là 40,5%. Những vấn đề thường gặp là nước bị đục, có màu vàng (do sắt), có mùi lạ, trong đó tỷ lệ nước bị đục khá cao trên 80% (88,7% năm 2012 và 83,7% năm 2013.
Đối với nguồn nước ăn uống, đa số hộ gia đình sử dụng nước uống đóng chai hoặc nước uống đóng bình 20 lít cho ăn uống (32,1% năm 2012 và 55,2% năm 2013), kế đến là nước máy (27,9% năm 2012 và 32,7% năm 2013), nước giếng khoan hay nước mưa. Tuy nhiên, tỷ lệ có xử lý nước trước khi dùng để ăn uống là thấp (47,5% năm 2012 và 25,9% năm 2013). Đáng chú ý là tỷ lệ đối tượng cho biết luôn luôn xử lý nước trước khi sử dụng là thấp (dưới 18%). Mặt khác, biện pháp xử lý nước được dùng phổ biến là đun sôi (chiếm 79,8% năm 2012 và 91,6% năm 2013), những biện pháp xử lý khác như lắng phèn, lọc hay dùng chất khử trùng nước là ít. Trong khi đó, kết quả khảo sát về chất lượng nguồn nước cho thấy nước máy có rất nhiều vấn đề về độ đục, cặn bẩn, và chỉ xử lý đơn thuần bằng đun sôi là không có tác dụng.
Theo Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, các cơ sở cung cấp nước sạch phải đáp ứng đầy đủ 109 chỉ tiêu. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định các chỉ tiêu rất cụ thể như màu sắc, mùi vị, clo dư, nồng độ pH; hàm lượng amoni, hàm lượng sắt, hàm lượng Asen, Coliform; Ecoli hoặc Coliform chịu nhiệt…vv Có 2 mức độ cho các chỉ tiêu là mức độ A, B. Các cơ sở cung cấp nước phải thực hiện xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu, đối với giám sát định kỳ các chỉ tiêu mức độ A xét nghiệm ít nhất 3 tháng /1 lần, cơ quan có thẩm quyền giám sát sẽ lấy mẫu nước tại 100% cơ sở cung cấp nước được giao quản lý, lấy mẫu nước ngẫu nhiên đối với nước do cá nhân, hộ gia đình tự khai thác để sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Đối với các chỉ tiêu thuộc mức độ B, xét nghiệm ít nhất 01 lần/ 6 tháng do cơ sở cung cấp nước thực hiện.
Khi kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước hoặc trong điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm, khi xảy ra sự cố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh nguồn nước, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tổ chức giám sát đột xuất.
Để tăng cường công tác quản lý, giám sát chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt, ngày 11/12/2014 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 34/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo đảm an toàn vệ sinh và phòng chống ngộ độc thực phẩm trong tình hình mới, trong đó chú trọng công tác tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các nguồn nước cấp khu vực đô thị, các khu dân cư, khu tập thể, các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm và hệ thống cấp nước tập trung. Thực tế, việc kiểm soát chất lượng nước sạch hiện nay đang là một thách thức lớn, theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long “cần phải xã hội hóa vấn đề kiểm tra chất lượng nước sạch, các gia đình cần chủ động xét nghiệm mẫu nước trong gia đình, việc này nên trở thành thói quen, thông lệ cùng với sự hỗ trợ một phần của nhà nước”.
Bảo Trâm