Sàng lọc ung thư cổ tử cung thực hiện bằng phương pháp sàng lọc tế bào cổ tử cung qua quan sát cổ tử cung với axit acetic, vơí dung dịch Lugol và xét nghiệm HPV.
Một số xét nghiệm chẩn đoán có thể phát hiện các tuýp HPV nguy cơ cao sinh ung thư, xét nghiệm HPV có độ nhạy cao và giá trị dự báo âm tính cao. Nếu kết quả xét nghiệm HPV âm tính gần như không có nguy cơ hình thành CIN III trong vòng 5 năm sau đó. Điều này cho phép giãn thời gian sàng lọc và giảm số lần sàng lọc trong cuộc đời người phụ nữ.
Theo các chuyên gia sản phụ khoa, kỹ thuật PCR và Realtime-PCR được thực hiện trên bệnh phẩm lấy từ âm đạo - cổ tử cung nhằm được dùng để phát hiện một nhóm 14 tuýp HPV nguy cơ cao sinh ung thư, còn gọi là kỹ thuật đặc hiệu theo nhóm hoặc định tuýp HPV bằng bệnh phẩm lấy từ âm đạo - cổ tử cung hoặc mảnh sinh thiết cổ tử cung. Một số kỹ thuật khác như kỹ thuật định tuýp từng phần, sàng lọc xác định tuýp 16 và 18 đồng thời xác định nhiễm ít nhất 12 tuýp HPV nguy cơ cao còn lại; kỹ thuật xét nghiệm ARN thông tin của HPV; xét nghiệm protein E6 HPV; xét nghiệm tìm protein p16 INK 4a của tế bào sinh ra trong quá trình tương tác với HPV.
Đối tượng của phương pháp xét nghiệm là phụ nữ trong độ tuổi 25-65, đã quan hệ tình dục, không có những trường hợp như viêm âm đạo cấp, viêm phần phụ cấp; phụ nữ đang hành kinh. Phương pháp sử dụng xét nghiệm HPV ở phụ nữ có các thay đổi tế bào không xác định rõ (ASC-US) sẽ có lợi ích tốt, đa số sẽ âm tính đối với HPV; không cần soi cổ tử cung và sinh thiết; chỉ một nhóm nhỏ phụ nữ có ASC-US bị nhiễm HPV và cần được thăm dò tiếp theo. Phương pháp sàng lọc phối hợp bằng tế bào cổ tử cung và xét nghiệm HPV có thể làm tăng độ đặc hiệu trong việc phát hiện CIN 2,3 so với xét nghiệm HPV đơn thuần.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, ước tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc; 75.000 người chết vì ung thư. Năm 2020 dự kiến có khoảng 200.000 trường hợp chết do ung thư. Ở nam giới, ung thư phổi và ung thư dạ dày chiếm tỷ lệ nhiều nhất, đối với nữ giới thường gặp là ung thư vú và ung thư cổ tử cung.
Theo các chuyên gia ung thư, sàng lọc là quá trình áp dụng một biện pháp kỹ thuật hay xét nghiệm để phát hiện sớm một bệnh ở thời kỳ tiền lâm sàng mà bệnh đó chưa có biểu hiện ra các triệu chứng lâm sàng. Để sàng lọc rộng rãi, có hiệu quả cần có các phương pháp sàng lọc và điều trị sẵn có. Ung thư cổ tử cung là bệnh dễ điều trị, tỷ lệ thành công tới 94% nếu phát hiện sớm ở giai đoạn 1.
Đối với chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung, xét nghiệm tế bào cổ tử cung hàng loạt, định kỳ và có hệ thống đã được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả cao. Hiện nay, có 3 phương pháp có thể sử dụng độc lập hoặc phối hợp với tế bào cổ tử cung để tầm soát là quan sát cổ tử cung với axit acêtic (VIA), quan sát cổ tử cung với dung dịch Lugol (VILI) và xét nghiệm HPV.
Sàng lọc bằng tế bào cổ tử cung được chỉ định cho các phụ nữ trong độ tuổi 20-65, đã quan hệ tình dục, ưu tiên cho nhóm phụ nữ nguy cơ trong độ tuổi 30-50. Đối với độ tuổi 20-65 tuổi, sàng lọc thực hiện theo phác đồ, nếu sau 3 lần xét nghiệm sàng lọc liên tiếp có kết quả âm tính thì có thể giãn thời gian sàng lọc mỗi chu kỳ thêm 1-2 năm nữa. Đối với phụ nữ trên 65 tuổi, có thể ngừng sàng lọc nếu có ít nhất 3 lần xét nghiệm sàng lọc có kết quả âm tính hoặc có ít nhất 2 lần sàng lọc đồng thời bằng tế bào học và xét nghiệm HPV có kết quả âm tính; hoặc không có kết quả xét nghiệm bất thường trong vòng 10 năm trước đó; hoặc trường hợp phụ nữ đã cắt tử cung toàn phần vì bệnh lý lành tính, nay tuổi đã trên 65 tuổi có thể ngừng sàng lọc.
Các dấu hiệu của ung thư cổ tử cung cần quan tâm đó là xuất huyết âm đạo bất thường; dịch âm đạo tiết ra bất thường; đau hoặc chảy máu nhẹ sau khi quan hệ tình dục; chu kỳ kinh nguyệt bất thường; thay đổi thói quen đi tiểu; đau vùng xương chậu, đau lưng, thiếu máu. Xuất huyết âm đạo bất thường là hiện tượng phổ biến, chảy máu âm đạo ở những ngày không phải chu kỳ kinh nguyệt; không rõ nguyên nhân tại sao có hiện tượng ra máu. Ở giai đoạn đầu của ung thư, dịch âm đạo tiết ra nhiều bất thường, màu sắc lạ như vàng, xanh như mủ hoặc lẫn máu, có mùi khó chịu. Ung thư cổ tử cung sẽ tác động đến quá trình phát triển và rụng trứng cũng như sự cân bằng hormone trong cơ thể; kết quả chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ không bình thường như trước đây. Người phụ nữ có thể bị trễ kinh, kinh nguyệt kéo dài hoặc máu kinh nguyệt có màu đen sẫm. Trong trường hợp ung thư đã lan tới xương chậu, cùng với xuất huyết bất thường, bệnh nhân có đau vùng xương chậu, cần chú ý đau xương chậu mà không liên quan đến kỳ kinh. Đau khi quan hệ tình dục hoặc đau khi đi tiểu cũng là dấu hiệu cảnh báo của ung thư cổ tử cung. Triệu chứng thiếu máu có thể xảy ra vì số lượng hồng cầu khỏe mạnh giảm và được thay thế bằng các bạch cầu để đẩy lùi bệnh; người bệnh mệt mỏi, cạn kiệt năng lượng, giảm cân không rõ nguyên nhân và mất cảm giác ngon miệng./.
Quỳnh Anh