Theo Lãnh đạo Cục Phòng chống HIV/AIDS- Bộ Y tế, để thực hiện thành công cam kết mục tiêu 90-90-90, Việt Nam cần triển khai ngay 03 việc chính: Làm thế nào để người có hành vi nguy cơ cao đến làm xét nghiệm, điều này có liên quan chặt chẽ với công tác truyền thông tính sẵn có của dịch vụ HIV/AIDS; thứ hai là việc xét nghiệm HIV cần các phương pháp đa dạng, chính xác; thứ ba là việc kết nối giữa xét nghiệm và điều trị để giúp người mới nhiễm vào điều trị ngay.

Báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS, hiện toàn quốc có 1.250 cơ sở thực hiện xét nghiệm sàng lọc và khẳng định HIV; chất lượng phòng xét nghiệm được đánh giá đạt chuẩn, yêu cầu đề ra. Trong tháng 6/2019, Cục Phòng chống HIV/AIDS đã tổ chức hội thào triển khai thí điểm xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV tại 11 tỉnh, thành phố trong dự án hỗ trợ của PEPFAR. Xét nghiệm mới nhiễm này sẽ biết được nhiễm HIV lâu hay nhiễm mới trong vòng 6- 12 tháng, tuy nhiên kết quả cũng còn phụ thuộc vào cơ địa của mỗi người.
Theo Quyết định số 5292/QĐ-BYT ngày 24/11/2017 của Bộ y tế về Ban hành Kế hoạch thí điểm phương pháp xác định nhiễm mới HIV tại một số tỉnh, thành phố các phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm mới HIV bao gồm:
1. Phương pháp sử dụng kỹ thuật miễn dịch gắn men tóm bắt BED (thử nghiệm BED)
Thử nghiệm BED dựa trên nguyên tắc xác định thời gian nhiễm HIV của một người bằng cách xác định sự có mặt của một số dấu ấn trong huyết thanh hoặc huyết tương. Thử nghiệm BED sử dụng một peptide có 3 nhánh được thiết kế đặc hiệu, sử dụng các trình tự, hay các đoạn, gp41 của các phân nhóm HIV-1 khác nhau. Đoạn peptide chung cho nhiều phân nhóm này sau đó được dùng để đo lường tỷ lệ đang tăng lên của kháng thể IgG đặc hiệu HIV so với IgG toàn phần sau giai đoạn chuyển đổi huyết thanh. Tỷ lệ kháng thể IgG kháng HIV so với kháng thể IgG toàn phần tăng lên theo thời gian nhiễm cho phép ước tính thời gian nhiễm.
Tuy nhiên kỹ thuật BED với hạn chế là ước lượng cao tỉ lệ nhiễm mới HIV-1 do phân loại sai một số các trường hợp nhiễm cũ (theo định nghĩa nhiễm cũ là nhiễm ≥ 1 năm) thành mới mắc trong các nghiên cứu cắt ngang. Tỉ lệ đã nhiễm cũ bị phân loại sai là nhiễm mới được gọi là tỷ lệ sai gần đây của kỹ thuật (tỷ lệ FRR). Kỹ thuật BED đã được xác định tỷ lệ phân loại sai FRR tại Việt Nam vào năm 2012.
2. Phương pháp sử dụng kỹ thuật miễn dịch gắn men ái tính kháng nguyên giới hạn rIDR-M Limiting Antigen Avidity Enzyme Immunoassay (sinh phẩm LAg-Avidity)
Kỹ thuật miễn dịch gắn men ái lực kháng nguyên giới hạn rIDR-M là xét nghiệm ái lực đã điều chỉnh do tổ chức CDC Hoa Kỳ nghiên cứu phát triển. Kỹ thuật này sử dụng một protein tái tổ hợp chung cho nhiều phân nhóm (rIDR-M) gộp 3 trình tự của các khu vực quyết định miễn dịch (rIDR) của gp41, đại diện cho các đa dạng phân nhóm HIV-1 từ A đến E (nhóm M). Nghiên cứu gần đây cho thấy kỹ thuật mới này cho phép phân biệt được giữa nhiễm mới và nhiễm cũ. Một tham số quan trọng trong kỹ thuật xác định tỷ lệ nhiễm mới HIV-1 là giá trị trung bình thời gian nhiễm mới của kỹ thuật được kiểm tra ở một số phân nhóm khác nhau của HIV-1, số liệu ban đầu của nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về thời gian nhiễm mới do phân nhóm HIV-1. Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này đáp ứng giống nhau với tất cả các phân nhóm HIV-1 khác nhau đang lưu hành trên thế giới. Kỹ thuật Lag avidity cũng đã được đánh giá FRR tại Việt Nam năm 2012.
3. Phương pháp sử dụng kỹ thuật I-P nhanh (Rapid I-P test)
Sinh phẩm Asanté™ HIV-1 Rapid Recency™ Assay là sinh phẩm xét nghiệm nhanh, và có nguyên lý tương tự như Sedia™ HIV-1 LAg-Avidity EIA, vừa chuẩn đoán nhiễm HIV và cho biết thời gian nhiễm HIV (dưới 6 tháng hoặc trên 6 tháng). Hiện nay sinh phẩm Asanté™ HIV-1 Rapid Recency™ Assay đã được sử dụng tại Hoa Kỳ trong các chương trình nghiên cứu và giám sát trọng điểm.
Với sự hỗ trợ của chương trình PEPFAR, sinh phẩm Asanté™ HIV-1 Rapid Recency™ Assay đang được tiến hành kỹ thuật dùng cho chẩn đoán tại 10 nước Châu Phi nhằm ước tính tỷ lệ nhiễm mới của các phụ nữ mang thai, dưới 25 tuổi tại tất cả các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS do PEPFAR hỗ trợ tại 10 nước này nhằm kết hợp xét nghiệm phát hiện nhiễm mới HIV vào chương trình dịch vụ xét nghiệm thường quy cho phụ nữ mang thai.
Kỹ thuật HIV Asanté™ Rapid HIV-1 được phát triển năm 2016. Kỹ thuật này cho biết kết quả trong thời gian ngắn từ 20 đến 45 phút. Đây là một kỹ thuật cho phép phân biệt một trường hợp đã nhiễm trong vòng 6 tháng qua hay đã nhiễm từ lâu. Dựa trên trên nguyên lý miễn dịch như kỹ thuật Lag - avidity. Sinh phẩm HIV Asanté™ Rapid HIV-1 sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp HIV-1 rIDR-M cho vùng nhiễm mới và kháng nguyên gp 41 à gp 36 cho vùng hiện nhiễm.
Khi tiến hành xét nghiệm trên mẫu bệnh phẩm: Nếu mẫu chỉ có vạch chứng là mẫu âm tính. Nếu mẫu xuất hiện 1 vạch ở vùng mới nhiễm mà không xuất hiện vạch ở vùng hiện nhiễm là mẫu nhiễm mới. Nếu mẫu có xuất hiện cả 2 vạch màu ở vùng mới nhiễm và hiện nhiễm có nghĩa mẫu đã nhiễm lâu trên 6 tháng.
Ứng dụng của xét nghiệm phát hiện tỷ lệ nhiễm mới HIV là cách hiệu quả giúp giảm lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao. Việc triển khai xét nghiệm này trong giám sát trọng điểm sẽ giúp ước tính được xu hướng lây nhiễm mới HIV tại Việt Nam.
Văn Hanh