Theo báo cáo cơ quan Thường trực phòng, chống Ma túy- Bộ Công an, báo cáo của Bộ Lao động thương binh và Xã hội, hiện cả nước có hơn 222.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý. Trong đó 67,5% người đang sinh sống ngoài xã hội; 19% người trong trại tạm giam, tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; 13,5% người trong cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Năm 2018, các lực lượng chức năng toàn quốc bắt giữ 24.698 vụ với 38.146 đối tượng phạm tội về ma túy; tang vật thu giữ hơn 1,8 tấn heroin, 216 kg thuốc phiện, 141 kg cocain, hơn 1,3 triệu viên và hơn 2 tấn ma túy tổng hợp. So với các năm từ 2015 đến nay, bình quân mỗi năm tăng từ 10-13% số vụ, từ 10-12% về số đối tượng, đặc biệt số lượng ma túy tổng hợp các loại tăng đột biến. Chỉ tính riêng 9 tháng năm 2018, số ma túy các loại thu được đã nhiều hơn cả năm 2917.
Báo cáo của Chi cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội TP Hồ Chí Minh tính đến tháng 12/2018, thành phố có hơn 23.500 người nghiện có hồ sơ (chiếm hơn 10% cả nước); gần 10.500 người có mặt ở địa phương; hơn 11.800 người ở cơ sở chữa bệnh. Khoảng 79% người nghiện là nghiện ma túy tổng hợp. Thống kê hàng năm tại 13 cơ sở điều trị nghiện của TP Hồ Chí Minh cho thấy, số người nghiện sử dụng ma túy tổng hợp ngày càng tăng. Khi đã cắt cơn nghiện, kiểm soát việc sử dụng chấy gây nghiện sẽ giảm thiểu nguy cơ người nghiện ma túy tổng hợp gây họa cho bản thân, gia đình và xã hội; ngược lại nếu không can thiệp kịp thời, lúc họ thiếu thuốc sẽ rối loạn tâm thần, họ sẽ là mối nguy cho bản thân, người thân và cộng đồng.
Theo báo cáo của cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hiệp quốc (UNODC), chất kích thích dạng Amphetamin (ATS) là loại ma túy phổ biến thứ hai trên thế giới chỉ sau cần sa.
Tại Việt Nam, loại ma túy tổng hợp được sử dụng phổ biến là Methamphetamin, Estasy, Ketamine với tên lóng là hàng đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba.
Bệnh nhân sử dụng Methamphetamine hầu hết có triệu chứng trầm cảm, lo âu (58%); một số khoảng 36% có biểu hiện triệu chứng loạn thần, bao gồm hoang tưởng bị truy hại (77,4%); ảo thính (44,6%)…. Ngoài ra, hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sử dụng quan hệ tình dục bừa bãi, hay chích chung bơm kim tiêm dễ bị lây nhiễm HIV, viêm gan siêu vi; đồng thời do bị kích động, người sử dụng ATS hay có hành vi phóng xe, lạng lách gây tai nạn giao thông….
Người sử dụng ATS có các khuynh hướng sử dụng khác nhau như dùng thử, dùng giải trí, dùng vì hoàn cảnh (lái xe đường dài, học thi, làm việc ca đêm…). Sử dụng không thường xuyên hoặc dùng ồ ạt 2-10 ngày; sử dụng thường xuyên có thể làm suy giảm sức khỏe thể chất, tâm lý hoặc khả năng làm việc.
Khi sử dụng ATS, người dùng sẽ trải qua nhiều giai đoạn, tác động vào hệ thần kinh trung ương, làm biến đổi và chi phối mọi hành vi, cụ thể:
Giai đoạn 1: Hưng phấn vật lý ban đầu
Sau khi hút hoặc tiêm chích ATS, người sử dụng trải qua những biểu hiện tăng nhịp tim, tăng quá trình trao đổi chất và tăng huyết áp. Cơn hưng phấn vật lý do ATS có thể kéo dài tới 30 phút.
Giai đoạn 2: Khoái cảm
ATS thường làm cho người sử dụng cảm thấy thông minh và tự tin hơn, có thể có thái độ hung dữ và dễ gây sự, thường nói ngắt lời người khác. Các hiệu ứng ảo giác có thể dẫn đến tập trung cao độ vào một hành vi vô nghĩa, chẳng hạn làm sạch nhiều lần cùng một cửa sổ trong vài giờ. Khoái cảm có thể kéo dài từ 4-16 giờ.
Giai đoạn 3: Sử dụng mất kiểm soát
Khi thấy khoái cảm bắt đầu thoái trào, người sử dụng duy trì khoái cảm bằng cách tiếp tục sử dụng ATS. Tuy nhiên, cơn phấn khích giảm so với ban đầu sau mỗi 18 lần sử dụng. Đây chính là hiện tượng dung nạp xảy ra tức thì. Người nghiện sẽ tiếp tục sử dụng ATS trong khoảng 3 đến 15 ngày, cho đến khi không thể có được hưng phấn hoặc khoái cảm gì nữa mới thôi. Người sử dụng không buồn ngủ, cảm giác phấn khích cả về thể thất và tinh thần.
Giai đoạn 4: Giai đoạn chuyển tiếp
- Vào cuối giai đoạn trên, người sử dụng trải nghiệm tâm trạng buồn bã và trống rỗng được gọi là "sự chuyển tiếp". Trong giai đoạn chuyển tiếp này, người sử dụng ATS có thể dùng rượu hay heroin, để làm giảm trạng thái u uất. Đây là thời điểm dễ xuất hiện hành động khó lường như bạo lực, ảo giác và hoang tưởng. Không chịu nổi cảm giác khủng khiếp của sự trống rỗng và cơn thèm ATS, người sử dụng mất đi khả năng nhận biết.
- Người bệnh có thể mất ngủ liên tục tới 3-15 ngày, hoàn toàn sống trong thế giới riêng của mình, nhìn thấy và nghe những điều mà những người khác không cảm nhận được. Họ có thái độ thù địch, dễ gây nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh.
Giai đoạn 5: Suy sụp
Người sử dụng ATS kết cục bằng sự suy sụp khi nguồn cung cấp Epinephrine của cơ thể bị cạn kiệt. Những trường hợp hung dữ nhất cũng trở nên vô cảm vào thời điểm này. Người bệnh có nhu cầu phải ngủ từ 1 cho đến hơn 3 ngày liên tục để lấy lại sức.
Giai đoạn 6: Trở lại bình thường
Sau giai đoạn suy sụp, người bệnh trong trạng thái mất nước, đói và hoàn toàn suy kiệt về thể chất, tinh thần và cảm xúc. Giai đoạn này thường kéo dài 2-14 ngày. Đây là con đường dẫn tới nghiện, vì "giải pháp" cho những cảm giác trống rỗng là sử dụng nhiều ATS hơn. Sau vài ngày ngủ liên tục và ăn nhiều, người bệnh trở lại bình thường. Tuy nhiên, thể trạng nói chung xấu đi so với trước khi sử dụng ATS.
Giai đoạn 7: Trạng thái cai
Triệu chứng cai ATS thường xuất hiện sau khi sử dụng sau đó ngừng đột ngột. Giai đoạn này kéo dài 1 đến 3 tháng. Không có các triệu chứng cơ thể cấp tính. Tuy nhiên, biểu hiện hội chứng cai ở người sử dụng ATS là từ từ trở nên chán nản, thiếu năng lượng và không thể cảm nhận được niềm vui. Cơn thèm nhớ ATS có thể xuất hiện bất ngờ, kết hợp với cảm giác trầm cảm và dẫn đến tự sát.
Hoa Đăng