Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) là bệnh lý hô hấp có tỷ lệ mắc và tử vong khá cao.
Ở Mỹ, bệnh nhân COPD có khoảng 32 triệu người và là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tỷ lệ mắc bệnh COPD ở Việt Nam khá cao với 6,7%, đứng đầu 12 nước khu vực Đông Nam Á. Theo các chuyên gia hô hấp, cùng với các chỉ tiêu thông khí phổi, các chỉ tiêu về chức năng trao đổi khí phế nang mao mạch là rất quan trọng. Tác giả Boutou A qua nghiên cứu chỉ ra rằng, chức năng trao đổi khí là yếu tố dự báo nguy cơ tử vong tốt nhất của COPD.
Các chuyên gia cho rằng, đo thể tích toàn thân (whole body plethysmographie) là một trong những phương pháp hiện đại, cho phép thăm dò chức năng hô hấp một cách toàn diện, trong đó có khuyếch tán khí.
Từ tháng 10/2013 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Phương Nam cùng cộng sự bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng, Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang mô tả báo cáo đề tài “Sụt giảm khuyếch tán phế nang mao mạch và mối tương quan của nó với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”.
Đối tượng nghiên cứu gồm 75 bệnh nhân COPD được chẩn đoán xác định theo GOLD 2013, điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103. Tác giả nghiên cứu cho biết sử dụng máy đo thể tích toàn thân hãng sản xuất Care Fusion Mỹ, Máy được chuẩn định hàng ngày về tính chính xác, độ ổn định, độ sai số cho phép trước khi thăm dò chức năng hô hấp.
Tác giả nghiên cứu phân tích, bệnh nhân trong nghiên cứu là nam giới chiếm đến 98,7%; độ tuổi từ 52 trở lên. Số đối tượng nghiên cứu gày chiếm 42,7% (BMI < 18), khi BMI thấp do bất kỳ nguyên nhân nào tiên lượng bệnh cũng xấu và là một nguy cơ tử vong.

Về sụt giảm thông số khuyếch tán phế nang mao mạch ở bệnh nhân COPD, thông số khuyếch tán của bệnh nhân được lấy khi đã hiệu chỉnh với Hb. Tác giả cho biết, kết quả thông số khuyếch tán phế nang mao mạch giảm mạnh ở bệnh nhân COPD; 12,4 mmol CO/min/mmHg tương ứng 79,1% số lý thuyết. Nguyên nhân chính gây giảm thông số DLCO ở COPD là do tắc nghẽn đường dẫn khí mạn tính. Hiệu suất khuyếch tán KCO cũng giảm sút 2,9 và chỉ đạt 77,6% số lý thuyết KCO hay DLCO/VA là kết quả của sự vận chuyển CO qua một đơn vị thể tích phổi. Tác giả cho rằng, kết luận giảm khả năng khuyếch tán KCO có ý nghĩa hơn ý nghĩa giảm tổng khả năng khuyếch tán (DLCO total). Bởi vì nếu có sự giảm khuyếch tán từng phần của phổi thông thường sẽ được bù bằng cách tăng thể tích phế nang nên tổng DLCO có thể không thay đổi. Tác giả nghiên cứu lưu ý, ở bệnh nhân khí phế thũng có sự phá hủy mao mạch phổi do giảm từng phần mạch máu đi kèm. Do vậy tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, ngay cả khi tắc nghẽn đường thở nhỏ mặc dù các thể tích và các dung tích có thể tăng nhưng hiệu suất khuyếch tán khí qua màng giảm.
BS Phương Nam báo cáo kết quả trong nghiên cứu có hơn một nửa bệnh nhân COPD có tình trạng sụt giảm thông số khuyếch tán CO phế nang mao mạch; giảm nhẹ chiếm 23,1%; giảm vừa 20,5%; nặng 7,7% số bệnh nhân COPD. Khi đánh giá trên khả năng khuyếch tán phát hiện được 33,3% bệnh nhân giảm nhẹ; 23,1% bệnh nhân giảm vừa, do điều này các nghiên cứu thường sử dụng đánh giá sự khuyếch tán bằng thông số khuyếch tán.
Tác giả nghiên cứu báo cáo về mối tương quan giữa khuyếch tán khí với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu; khuyếch tán phế nang mao mạch đều có sự tương quan thuận yếu với phân nhóm BMI và tương quan nghịch với các mMRC, CAT, tăng thán, giảm O2 máu động mạch mức độ yếu đến vừa nhưng lại không thấy liên quan với nhóm tuổi (p < 0,05).
BS Phương Nam có kết luận cho nghiên cứu, thông số khuyếch tán phế nang mao mạch giảm mạnh ở bệnh nhân COPD 12,4 mmol CO/min/mmHg tương ứng 79,1% số lý thuyết và 51,3% bệnh nhân COPD có DLCO ≤ 75%. Khuyếch tán khí có tương quan từ thấp đến cao với mức độ khó thở, thang điểm CAT, mức độ tắc nghẽn, phân nhóm toàn diện hóa, kiểu hình khí phế thũng, biến chứng tim phổi mạn ở bệnh nhân COPD. Tác giả cho rằng thăm dò khuyếch tán khí là rất cần thiết, cần được áp dụng rộng rãi hơn trong quá trình theo dõi, tiên lượng và điều trị cho bệnh nhân COPD.
Tác giả nghiên cứu cho biết, trong nghiên cứu thu thập thông tin và phân loại mức độ tắc nghẽn và mức độ nặng A, B, C, D theo GOLD2013. Khí máu tăng thán pCO2 > 45 mmHg; giảm oxy động mạch khi pO2 < 80 mmHg. Kiểu hình COPD ưu thế khí phế thũng, viêm phế quản mạn; biến chứng tâm phế mạn và suy hô hấp mạn; xác định thông số khuyếch tán mao mạch phế nang và đánh giá khả năng khuyếch tán mao mạch. Giá trị DLCO lý thuyết điều chỉnh với Hb = DLCO lý thuyết x [1,7 Hb/ (10,22 + Hb)]. Số lý thuyết dựa theo tiêu chuẩn của Knudson năm 1983 dành cho người châu Á.
Huy Hoàng