Theo các chuyên gia nội thần kinh, cơn co giật (seizure) được định nghĩa là tình trạng bệnh lý ở não, đặc trưng bởi sự phóng lực quá mức, đồng bộ và tạm thời của một nhóm các neuron trong não; biểu hiện lâm sàng tương ứng với vùng não bị kích thích.
Bệnh động kinh (epilepsy) được đặt trưng bởi các cơn động kinh tái phát. Thông thường một bệnh được chẩn đoán là động kinh khi có ít nhất 2 cơn động kinh tự khởi phát cách nhau tối thiểu 24 giờ, nếu người bệnh chỉ có một cơn duy nhất thì chưa gọi là động kinh.
Trường hợp bệnh nhân có các cơn động kinh trong khuôn khổ bệnh lý cấp tính như viêm não, nhiễm độc cấp, rối loạn chuyển hóa thì không được gọi là bệnh động kinh. Tỷ lệ dân số bị động kinh khoảng 1-2%.

Để chẩn đoán bệnh, bác sĩ dựa vào hỏi bệnh sử cẩn thận, khám thần kinh và làm một số xét nghiệm, chụp hình não bộ để chẩn đoán. Bác sĩ hỏi bệnh sử như khi nào cơn động kinh bắt đầu, mô tả chi tiết những biến cố khi cơn động kinh xảy ra, tiền căn sức khỏe của bệnh nhân và gia đình.
Thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng như chụp cắt lớp CT biết cấu trúc bình thường của não, những bất thường cấu trúc như máu tụ, nang, u, mô sẹo liên quan đến động kinh. Chụp cộng hưởng MRI ngoài thông tin nhận được như chụp CT scan, MRI não giúp phát hiện các dị dạng bẩm sinh, xơ cứng thùy thái dương. Đo điện não đồ giúp nhận biết được hoạt động điện bất thường trong não sinh ra cơn động kinh, giúp nhận biết vị trí, độ nặng và loại cơn động kinh.
Về nguyên nhân gây ra động kinh, có 60-70% các trường hợp không rõ nguyên nhân. Các nguyên nhân có thể phát hiện là tổn thương não trong bào thai; chấn thương lúc sinh do thiếu ôxy; ngộ độc, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương; chấn thương đầu, u não, tai biến mạch máu não.
Bệnh cần được chẩn đoán phân biệt với co giật do nguyên nhân tâm lý, ngất; Migraine, hạ đường máu; bệnh não do biến chứng; cơn thiếu máu não thoáng qua; rối loạn tiền đình; rối loạn trong giấc ngủ; cơn quên toàn bộ tạm thời; rối loạn vận động; co thắt nửa mặt, cơn hoảng loạn; tác dụng phụ của thuốc và độc chất.
Hiệp Hội Chống Động kinh quốc tế năm 1981 phân loại động kinh gồm động kinh cục bộ, động kinh toàn thể và động kinh không phân loại.
Động kinh cục bộ gồm 3 loại, động kinh cục bộ đơn giản có triệu chứng vận động, cảm giác, giác quan hay tâm thần và tri giác không ảnh hưởng. Động kinh cục bộ phức tạp, có tri giác bị ảnh hưởng, có thể khởi đầu là động kinh cục bộ đơn giản sau đó mất ý thức hay mất ý thức ngay – có một loại là động kinh cục bộ đơn giản hay phức tạp thể hóa.
Đối với động kinh toàn thể có cơn vắng ý thức; cơn vắng ý thức không điển hình; cơn giật cơ, cơn co giật; cơn co cứng; cơn mất trương lực; cơn co cứng – co giật.
Đối với động kinh không phân loại gồm các cơn mà lâm sàng không phân loại vào 2 nhóm trên như hội chứng West; hội chứng Lennox – Gastant.
Các chuyên gia nội thần kinh cho biết nguyên tắc điều trị bệnh động kinh, điều trị các cơn động kinh, không điều trị theo điện não đồ; bắt đầu liều thấp tăng dần; đơn trị liệu đầu tiên; tăng liều thuốc theo hiệu quả lâm sàng, độc tính. Theo dõi nồng độ thuốc sử dụng; kết hợp thuốc khi cần và thích hợp các thuốc có các cơ chế khác nhau; tránh kết hợp các thuốc có cùng cơ chế; không kết hợp các thuốc cạnh tranh dược lý.
Nếu xác định được nguyên nhân bác sĩ sẽ điều trị nguyên nhân và điều trị động kinh. Trường hợp không có nguyên nhân hoặc nguyên nhân không điều trị được – điều trị chống động kinh.
Về điều trị phẫu thuật động kinh nhằm lấy bỏ vùng não gây ra động kinh, làm gián đoạn thể chai. Chỉ định trong các trường hợp có nguyên nhân tổn thương ở não như u não, áp xe não. Phẫu thuật thực hiện đối với động kinh cục bộ, động kinh kháng trị, hiện diện ít nhất 2 năm; động kinh gây ra trở ngại lớn trong sinh hoạt hàng ngày, học tập, làm việc và quan hệ xã hội của người bệnh.
Một phương pháp là đặt máy kích thích thần kinh X; hiệu quả trong một số trường hợp động kinh kháng trị với thuốc.
Về điều trị hỗ trợ, các bác sĩ cho rằng bệnh nhân ăn chế độ ăn sinh ceton; ăn với thực đơn chọn sẵn nhiều mỡ; ít chất bột và đạm, phương pháp áp dụng ở trẻ 1-8 tuổi.
Các bác sĩ lưu ý quan trọng là giáo dục người bệnh, gia đình, người liên quan về tình trạng bệnh lý động kinh, khả năng đáp ứng thuốc, tác dụng phụ và những nguy hiểm mà bệnh nhân có thể gặp do bệnh lý, do quá trình sử dụng thuốc và do thời gian sử dụng thuốc. Về theo dõi và tái khám, mỗi 2 tuần trong 2 tháng đầu bệnh nhân được tái khám đánh giá đáp ứng thuốc, tác dụng phụ, điều chỉnh liều thuốc; khi bệnh ổn định có thể theo dõi 1-2 tháng.
Hoa Phượng