Các thông điệp liên quan điều chỉnh rối loạn lipit máu là tăng LDL-C huyết tương là nguyên nhân gây xơ vữa động mạch; giảm LDL-C làm giảm các biến cố tim mạch; nồng độ HDL-C thấp có liên quan đến tăng nguy cơ tim mạch. Mọi người cần thay đổi lối sống và thay đổi chế độ ăn uống theo khuyến cáo của y tế. Cần căn cứ vào nguy cơ tim mạch tổng thể để quyết định cường độ can thiệp. Khi xét nghiệm máu lúc đói cần làm cholesterol toàn phần và HDL-C.
Khi điều trị rối loạn lipit máu cần chú ý trường hợp tăng lipit máu thứ phát gặp trong suy giáp, đái tháo đường, hội chứng Cushing, bệnh lý gan thận, nghiện rượu và sử dụng corticosteroid. Vì vậy cần điều trị bệnh nền trước khi dùng thuốc giảm lipit máu.
Cần xem xét khả năng tăng lipit có tính chất gia đình ở bệnh nhân có lipit máu tăng cao bất thường hoặc kèm theo có tiền sử gia đình. Cần được khám bác sĩ chuyên khoa để có hướng điều trị phù hợp.
Nếu LDL-C tăng ở mức thấp hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi có bệnh tim mạch hoặc tiền sử gia đình có bệnh tim mạch cần nghĩ tới trường hợp tăng lipit có tính chất gia đình.
Đích điều trị LDL-C cần đạt là dưới 1,8mmol/L, dưới 2,6mmol/L và dưới 3,0mmol/L cho các trường hợp có nguy cơ cao, nguy cơ trung bình và nguy cơ thấp. Năm 2019, Hội Tim mạch Châu Âu khuyến cáo hạ thấp hơn nữa, giảm LDL-C tuyệt đối càng nhiều thì mức giảm nguy cơ tim mạch càng lớn.
Việc giảm nguy cơ tim mạch qua giảm LDL-C cần được cá nhân hóa. Ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch rất cao nên giảm tối thiểu 50% mức LDL-C ban đầu cùng với việc đạt được mục tiêu phù hợp. Mức giảm khuyến cáo cần giảm trên 50% so với ban đầu và đưa LDL-C <1,4mmol/L (<55mg/dL). Người có nguy cơ cao mục tiêu giảm LDL-C<1,8mmol/L. Ở bệnh nhân có nguy cơ trung bình giảm dưới 2,6mmol/L (<100mg/dL), người có nguy cơ thấp LDL-C<3,0mmol/L(dưới 116mg/dL).
Cho đến nay, không có mục tiêu cụ thể nào được xác định đối với HDL-C hoặc Tryglyceride mặc dù gia tăng HDL-C làm tăng quá trình xơ vữa động mạch, HDL-C thấp có liên quan đến biến cố mạch vành ngay cả mức LDL thấp. Bác sĩ tim mạch sẽ có những khuyến cáo cho người bệnh phù hợp.
Theo khuyến cáo Bộ Y tế, ở bệnh nhân có nguy cơ rất cao cần điều trị rối loạn lipit máu giảm được ≥50% LDL-C so với ban đầu và mục tiêu LDL-C là <1,4mmol/L (<55mg/dL).
Trong phòng ngừa ở người có nguy cơ rất cao và không phải là tăng cholesterol có tính chất gia đình, khuyến cáo giảm ≥50% LDL-C so với ban đầu và mục tiêu LDL-C là <1,4mmol/L (<55mg/dL).
Trong phòng ngừa tiên phát ở người tăng cholesterol có tính chất gia đình và có nguy cơ rất cao, khuyến cáo cân nhắc giảm ≥50% LDL-C so với ban đầu và mục tiêu LDL-C là <1,4mmol/L (<55mg/dL).
Đối với bệnh nhân có bệnh tim mạch và có biến cố lần hai trong vòng 2 năm (không nhất thiết phải cùng loại với biến cố đầu tiên), sử dụng liệu pháp statin ở liều tối đa dung nạp được và mục tiêu LDL-C<1,0mmol/L (<40mg/dL) có thể được cân nhắc.
Ở bệnh nhân có nguy cơ cao, khuyến cáo giảm ≥50% LDL-C so với ban đầu và mục tiêu LDL-C là <1,8mmol/L (<70mg/dL).Ở người có nguy cơ trung bình mục tiêu giảm LDL-C < 2,6mmol/L (<100mg/dL).
Ở người có nguy cơ thấp mục tiêu giảm LDL-C<3,0mmol/L (<116mg/dL)có thể cân nhắc.
Theo các chuyên gia tim mạch, việc quyết định điều trị bằng thuốc hay chỉ cần điều chỉnh lối sống sẽ phụ thuộc vào mức nguy cơ tim mạch 10 năm của bệnh nhân cũng như mức độ tăng LDL-C.
Nếu nguy cơ tim mạch tổng thể (SCORE)<1%, LDL-C chưa điều trị 3,0-4,9mmol/L (116-190mg/dL) thì thay đổi lối sống, cân nhắc điều trị thuốc; nếu LDL-C>4,9mmol/L (>190mg/dL) cần kết hợp thay đổi lối sống và điều trị thuốc.
Nếu SCORE từ 1-5%, với xét nghiệm LDL-C 2,6-3,0mmol/L (100-116mg/dL), khuyến cáo thay đổi lối sống, cân nhắc điều trị thuốc.
Nếu SCORE từ 5-10% hoặc nguy cơ cao, LDL-C từ 2,6mmol/L trở đi đã phải kết hợp thay đổi lối sống và điều trị thuốc.
Nếu SCORE≥10%, LDL-C ở mức 1,8mmol/L đã khuyến cáo kết hợp thay đổi lối sống và điều trị thuốc.
Theo khuyến cáo dự phòng bệnh tim mạch của Hội Tim mạch Mỹ (ACC/AHA 2019), chiến lược phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch cần phải chú ý đến các yếu tố nguy cơ khởi phát sớm trong cuộc sống. Vì vậy ở người trẻ 20-39 tuổi nên ưu tiên ước tính nguy cơ trọn đời và thúc đẩy một lối sống lành mạnh.
Thuốc được chỉ định ở những trường hợp có LDL-C tăng vừa >160mg/dL hoặc những người LDL-C ở mức tăng cao (>190mg/dL). Với người lớn từ 40 tuổi -75 tuổi, nguy cơ tim mạch 10 năm được dùng để hướng dẫn điều trị. Bác sĩ sẽ kết hợp với đánh giá các yếu tố làm tăng nguy cơ để quyết định điều trị statin. Đối với bệnh nhân >75 tuổi cần đánh giá kỹ lâm sàng và thảo luận các yếu tố nguy cơ với bệnh nhân.
Cải thiện điều trị phụ thuộc vào cường độ liệu trình điều trị, mức LDL-C ban đầu và nguy cơ tim mạch tổng thể. Sử dụng các thông tin nêu trên để thảo luận cùng với bệnh nhân về chiến lược điều trị.
Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao, mức LDL-C rất cao, ngoài điều trị statin với liều dung nạp tối đa, khuyên nghị bổ sung thuốc ức chế PCSK 9 (proprotein convertase subtilisin/kexintype 9).
Thay đổi lối sống để giảm Tryglyceride và LDL-C gồm: không ăn chất béo chuyển hóa (dạng trans); giảm ăn chất béo bão hòa; tăng chất xơ; sử dụng thực phẩm giàu phytosterol; sử dụng gạo nguyên cám (gạo lức); giảm cân; giảm ăn cholesterol; tăng cường tập thể dục. Thay đổi lối sống để giảm Tryglyceride gồm giảm cân, hạn chế uống rượu, tăng cường tập thể dục; giảm lượng carbonhydrat trong bữa ăn hàng ngày; sử dụng thêm các chất béo không bão hòa; giảm các loại đường đơn, đường đôi; thay thế chất béo bão hòa bằng chất béo không bão hòa đơn hoặc đa nối đôi.
Thay đổi lối sống để làm tăng HDL-C gồm: tránh ăn chất béo chuyển hóa (dạng trans); tăng cường tập thể dục;giảm cân nặng; giảm ăn carbonhydrat và thay thế bằng chất béo không bão hòa; sử dụng rượu mức độ vừa phải; bỏ hút thuốc lá./.
Hồng Hoa