Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) đã thay đổi nhiều trong những thập kỷ qua. Các tác nhân gây bệnh có thể là vi khuẩn gram dương, các vi khuẩn gram âm, virus, ký sinh trùng. Trong các tác nhân NKBV gây hậu quả nghiêm trọng thì nguyên nhân do Acinetobacter là nguy hiểm nhất và chiếm một tỷ lệ khá cao, trên 40% tại khoa điều trị tích cực ở người lớn.

Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về NKBV do Acinetobacter nhưng các nghiên cứu tập trung chủ yếu trên các bệnh nhân người lớn. NKBV ở trẻ em đã và đang trở nên một vấn đề rất đáng báo động, đặc biệt NKBV do Acinetobacter. Tuy nhiên các nghiên cứu về NKBV do Acinetobacter ở trẻ em còn chưa nhiều. Vì vậy nhóm tác giả Nguyễn Thị Diệu Thúy – Đại học Y Hà Nội cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nhiễm khuẩn bệnh viện do Acinetobacter tại khoa điều trị tích cực, Bệnh viện Nhi Trung Ương”.
Các bệnh nhân được chẩn đoán NKBV do Acinetobacter baumannii được điều trị tại khoa hồi sức tích cực, Bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 1/2013 đến tháng 8 năm 2015.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Các bệnh nhân được điều trị nội trú tại bệnh viện > 48h. Có bằng chứng của nhiễm khuẩn bệnh viện; Được chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn bệnh viện do Acinetobacter.
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ nhiễm khuẩn bệnh viện do các nguyên nhân khác ngoài Acinetobacter; Trẻ mắc các bệnh lý ác tính; Gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu một loạt ca bệnh. Chọn mẫu thuận tiện, lấy tất cả các trẻ được chẩn đoán NKBV do Acinetobacter.
BS Diệu Thúy báo cáo có 64 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân NKBV do Acinetobacter gặp ở các lứa tuổi khác nhau, từ sơ sinh cho đến 15 tuổi, tuổi thấp nhất là 26 ngày, tuổi cao nhất là 15 tuổi. Tỷ lệ NKBV do Acinetobacter hay gặp nhất ở lứa tuổi từ 1 đến 12 tháng, chiếm tỷ lệ 73,4%. Thực tế trẻ tuổi càng nhỏ, sức đề kháng còn kém, không có khả năng ho khạc nên dễ mắc viêm phổi, các cơ quan cũng chưa hoàn thiện về cấu trúc và chức năng nên trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn.

Bệnh nền: Trong 64 bệnh nhi nhập khoa hồi sức có 41 bệnh nhi vào viện vì viêm phổi và suy hô hấp, điều này có thể lý giải là do các bệnh nhi dưới 1 tuổi vẫn chủ yếu mắc các bệnh lý về hô hấp gây suy hô hấp. Bệnh nhân thường có ứ đọng nhiều đờm dãi, tăng xuất tiết đường hô hấp đòi hỏi phải hút đờm nhiều lần trong ngày nên rất dễ bị bội nhiễm. Ngoài ra các nguyên nhân khác như tim bẩm sinh, viêm não, nhiễm khuẩn huyết hoặc các bệnh lý khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.
Về đặc điểm lâm sàng: Nhiệt độ của bệnh nhân tại thời điểm cấy máu có 37 bệnh nhân có sốt > 37,50C chiếm tỷ lệ 68,75%, có 3 bệnh nhân có thân nhiệt < 360C chiếm tỷ lệ 4,7%. Thực tế, rối loạn về nhiệt độ hay gặp ở những bệnh nhân có NKBV.
Tất cả các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều được hỗ trợ hô hấp, bao gồm thở máy, mở khí quản, có can thiệp thủ thuật hút đờm dãi, đặt lại ống nội khí quản … Hầu hết bệnh nhân điều trị tại khoa hồi sức do các bệnh lý hô hấp và các bệnh lý mạn tính làm bệnh nhân suy hô hấp và có chỉ định thở máy, và tại thời điểm cấy máu dương tính với Acinetobacter phần lớn các bệnh nhân chưa cai được máy thở do tình trạng nặng của bệnh. Chính những thủ thuật xâm lấn này làm tăng thêm nguy cơ NKBV.
Trong nghiên cứu của BS. Thúy, 28,1% bệnh nhân có nhịp tim nhanh, 42,2% bệnh nhân có nhịp tim bình thường và 29,7% bệnh nhân có nhịp tim chậm.
Nhịp tim nhanh ở những bệnh nhi này có thể liên quan đến một số yếu tố như tình trạng thay đổi thân nhiệt, rối loạn hô hấp, shock.
Có 10,9% bệnh nhân có suy từ 2 tạng trở lên trong nghiên. Tuy nhiên ở những bệnh nhi có suy đa tạng tỷ lệ tử vong là khá cao 42,8%.
Đặc điểm cận lâm sàng: Có 78,1% bệnh nhân có tăng số lượng bạch cầu theo lứa tuổi, có 2 bệnh nhân có bạch cầu thấp. Sự biến đổi về thân nhiệt kèm theo những biến đổi về bạch cầu là những dấu hiệu gợi ý hoặc là những tiêu chuẩn để chẩn đoán NKBV. Bạch cầu đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các tác nhân gây bệnh nhất là trong nhiễm khuẩn huyết nặng. Tuy nhiên, sự kích hoạt bạch cầu quá mức sẽ gây tổn thương mô cơ quan và hệ thống miễn dịch qua bạch cầu. Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy bạch cầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình đáp ứng viêm và đông máu, tăng kích hoạt các tế bào miễn dịch làm quá trình bệnh nặng lên và khó điều trị.
Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong tiên lượng và điều trị, khi tiểu cầu dưới 50000/mm3 nguy cơ có rối loạn đông máu xảy ra và quá trình điều trị sẽ trở nên khó khăn hơn. Có 9,3% bệnh nhân có số lượng tiểu cầu < 50000/mm3 tại thời điểm nuôi cấy ra vi khuẩn.
Có 46 bệnh nhân có CRP > 10mg/l chiếm tỷ lệ 71,8%, tuy nhiên không có mối liên quan giữa tăng CRP và hiệu quả điều trị. Kết quả nghiên cứu cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà. Procancitonin là một marker đáng tin cậy để chẩn đoán tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân, đồng thời procancitonin là phương tiện theo dõi diễn biến điều trị trên lâm sàng.
Tác giả nghiên cứu kết luận, NKBV do Ancinertobacter là một nhiễm khuẩn nặng, hay gặp ở trẻ nhỏ tuổi. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng ủng hộ khẳng định Ancinertobacter là vi khuẩn gây tình trạng bệnh nặng, nguy cơ tử vong cao.
Huy Hoàng