Hội chứng Guillain – Barré là một bệnh lý thần kinh tự miễn, trong đó cơ thể sinh ra kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh đồng thời các kháng thể cũng tấn công và làm tổn thương myelin hay thậm chí cả sợi trục của dây và rễ thần kinh.
Đây là một bệnh lý cấp tính nặng có thể dẫn đến tử vong cũng như để lại những di chứng nặng nề nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Người ta chỉ tìm thấy được mối liên quan của hội chứng này với một số yếu tố nhiễm khuẩn, nhiễm virus, tiêm chủng hay sau phẫu thuật nào đó. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi với tỷ lệ mắc mới hàng năm vào khoảng từ 0,6 đến 4 trường hợp/100.000 dân. Những hiểu biết về cơ chế bệnh sinh vẫn chưa hoàn toàn được sáng tỏ. Người ta tìm thấy có các yếu tố như: có vai trò của các kháng thể kháng Gangliosid; sự bắt chước phân tử và phản ứng chéo; vai trò của bổ thể được hoạt hóa…
Cơ sở miễn dịch học của hội chứng Guillain – Barré tạo tiền đề cho sự ra đời của các phương pháp điều trị đặc hiệu. Thay huyết tương được chứng minh có hiệu quả giúp làm tăng tốc độ hồi phục, rút ngắn thời gian thở máy, thời gian nằm viện. Sử dụng Gamma globulin miễn dịch đường tĩnh mạch để điều trị cũng cho hiệu quả diều trị tương đương như thay huyết tương.
Từ tháng 9/2017 đến tháng 7/2019, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tuyên cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thực hiện nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân mắc hội chứng Guillain – Barré”
Theo tác giả có 42 bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng Guillain – Barré, không phân biệt nhóm tuổi và giới tính, các bệnh nhân được điều trị đặc hiệu bằng phương pháp sử dụng Gamma globulin miễn dịch đường tĩnh mạch hoặc phương pháp thay huyết tương. Thể bệnh của bệnh nhân chủ yếu là thể hủy myelin, có hai bệnh nhân thể Miller-Fisher.
Tác giả Nguyễn Mạnh Tuyên phân tích, mức độ nặng của bệnh nhân mắc hội chứng Guillain – Barré được đánh giá dựa trên thang điểm tàn tật của Hughes: mức độ nhẹ tương ứng với thang điểm 2, 3 của Hughes, mức độ nặng tương ứng với thang điểm 4, 5 của Hughes, và tử vong tương ứng với thang điểm 6 của Hughes. Đánh giá sau đợt điều trị, thời điểm bệnh nhân ra viện và sau 1 tháng, điểm tàn tật Hughes cải thiện với điểm thuyên giảm rõ rệt, trong đó sự khác biệt giữa trước và sau điều trị, sau 1 tháng là có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Sự thay đổi của triệu chứng lâm sàng sau điều trị đều có xu hướng cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ cải thiện sức cơ là 95,23%. Triệu chứng rối loạn cảm giác cải thiện là 85,71%. Tỉ lệ bệnh nhân giảm mức độ liệt dây sọ não là 76,19%. Phản xạ gân xương cải thiện 78,57%, tỉ lệ cải thiện triệu chứng thần kinh thực vật là 100%. Sau đợt điều trị và sau 1 tháng điểm sức cơ trung bình tăng lên rõ rệt ở cả hai nhóm theo thể bệnh, với điểm thuyên giảm tương ứng ở nhóm hủy myelin là 9,53 và 15,23 điểm; nhóm hủy sợi trục là 8,20 và 13,39 điểm. Thông thường, đau trong hội chứng Guillain – Barré ở các phần của chi trên, giữa hai bả vai, ở thắt lưng và mông hoặc xung quanh hông, đau dữ dội có thể gây ra các thay đổi về huyết áp và các thay đổi tim mạch khác. Đau ở giai đoạn cấp tính ở hội chứng Guillain – Barré là đau cảm thụ. Mức độ được đánh giá theo thang điểm đau theo số, chia thành 3 mức độ đau theo Tổ chức là đau cảm thụ. Mức độ được đánh giá theo thang điểm đau theo số, chia thành 3 mức độ đau theo Tổ chức Y tế Thế giới với điểm đau từ 1 đến 10, đau nhẹ là từ 1 đến 3 điểm, đau vừa là từ 4 đến 6 điểm và đau nặng là từ 7 đến 10 điểm. Các bệnh nhân mắc hội chứng Guillain – Barré sau đợt điều trị ở cả hai nhóm điểm NPRS trung bình giảm rõ rệt với điểm thuyên giảm cải thiện ở nhóm hủy myelin (3,03) cao hơn thể hủy sợi trục (1,30), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thể hủy myelin (p<0,001), và không có ý nghĩa thống kê ở thể hủy sợi trục (p>0,05). Hầu hết các bệnh nhân có đau trước điều trị trong nghiên cứu đều gần như hết triệu chứng sau đợt điều trị và thường không phải dùng thuốc hỗ trợ điều trị triệu chứng đau.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, các triệu chứng lâm sàng sau đợt điều trị có xu hướng cải thiện rõ rệt: Tỉ lệ cải thiện sức cơ là 95,23%, cải thiện triệu chứng cảm giác ở 85,71% bệnh nhân, cải thiện triệu chứng giảm và mất phản xạ ở 78,57%, giảm mức độ liệt dây thần kinh sọ não là 76,19%, không có triệu chứng thần kinh thực vật ở 100% bệnh nhân. Điểm sức cơ trung bình tăng sau đợt điều trị và sau 1 tháng với điểm thuyên giảm ở nhóm hủy myelin là 9,53 và 15,23 điểm với p<0,01 và nhóm hủy sợi trục là 8,20 và 13,39 điểm với p<0,05. Đánh giá ở thời điểm khi ra viện và sau 1 tháng, điểm tàn tật Hughes trung bình giảm có ý nghĩa ở cả 2 nhóm (p<0,05). Điểm NPRS trung bình giảm rõ rệt, trong đó điểm thuyên giảm trong nhóm hủy myelin là 3,03 với p<0,001 và nhóm hủy sợi trục là 1,30 với p<0,05. Như vậy sử dụng Gamma Globulin miễn dịch đường tĩnh mạch hoặc thay thế huyết tương là hai phương pháp điều trị đặc hiệu đem lại hiệu quả cao.
Hữu Lai