Ngày 10/10/2017, Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa tổ chức lớp tập huấn dược lâm sàng cho cán bộ y tế tại các cơ sở y tế công và tư trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Tham dự và phát biểu khai mạc có BS.CKII Lâm Quang Chứng - Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh; báo cáo viên lớp tập huấn là PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Trung tâm quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

Đánh giá vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng và tại bệnh viện, PGS.Hoàng Anh cho biết nhiễm khuẩn hô hấp cấp cộng đồng hiện thất bại điều trị với các kháng sinh sử dụng đầu tay như ampicillin, erythromycin và cotrimoxazol. Các nghiên cứu giai đoạn 2010-2011 tại Việt Nam cho thấy trên 70% S.pneumoniae kháng kháng sinh penicillin đường uống; trên 80% S.pneumoniae kháng macrolides; trên 50% H.influenzae kháng ampicillin; gần 40% H.influenzae không nhạy cảm với azithromycin. Một nghiên cứu quốc tế trên nhiều quốc gia ở châu Á cho thấy tỷ lệ đề kháng macrolid cao của phế cầu ở các nước châu Á, cụ thể tỷ lệ kháng erythromycin chung là 72,7%; ở Trung Quốc là 96,4%; Đài Loan 84,9%; ở Việt Nam là 80,7%.
Đối với nhiễm khuẩn tiết niệu, các nghiên cứu tổng kết y văn toàn cầu giai đoạn 2009-2014 cho thấy các chủng vi khuẩn gram âm đã đề kháng fluoroquinolon, đề kháng cephalosporin thế hệ 3; tình trạng này đặc biệt cao ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Mexico. Báo cáo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kính và cộng sự, thực trạng sử dụng kháng sinh tại các bệnh viện cho thấy tỷ lệ kháng cephalosporin, aminoglycoside, fluoroquinolones của các chủng vi khuẩn gram âm tại nhiều bệnh viện ở Việt Nam đã vượt quá 40%. Kết quả nghiên cứu của Vũ Đinh Phú cùng cộng sự tại 15 đơn vị điều trị tích cực tại các bệnh viện lớn trong toàn quốc, trên 3.287 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 79,4%; trong đó 57,5% nhiễm khuẩn xuất hiện trong thời gian nằm tại đơn vị điều trị tích cực; có 63,5% nhiễm khuẩn liên quan đến các thủ thuật xâm lấn trên người bệnh.
PGS.Hoàng Anh lưu ý về xu hướng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gram dương. Cụ thể như tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus); xuất hiện ở những bệnh viện có mổ nhiều, lọc máu, điều trị tích cực, bệnh nhân đái tháo đường, viêm phổi; vi khuẩn enterococci kháng vancomycin ở những bệnh nhân apxe gan, bệnh nhân nghiện rượu; phế cầu kháng với penicillin. Theo thống kê Việt Nam có 30,1% gia tăng của vi khuẩn gram dương kháng thuốc trong nhiễm khuẩn bệnh viện, tại TP Hồ Chí Minh nhiều bệnh viện tổng kết qua xét nghiệm vi sinh cho thấy tỷ lệ này cao đến 100%.
Một thực tế là tại Việt Nam, dùng nhiều kháng sinh và dùng kháng sinh không hợp lý; làm sao thay đổi được điều này là rất khó. Theo các đánh giá, ở bệnh viện, khoa ngoại, khoa sản là những khoa sử dụng kháng sinh không hợp lý nhiều nhất. Một khi sử dụng nhiều kháng sinh, sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ dẫn đến sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.
PGS.Hoàng Anh đưa ra nguyên tắc 30% trong sử dụng kháng sinh trong thực hành lâm sàng; bao gồm 30% bệnh nhân nội trú được kê đơn kháng sinh; chỉ có 30% kháng sinh được kê đơn không hợp lý tại cộng đồng; 30% kháng sinh dự phòng ngoại khoa không hợp lý; có 30% chi phí thuốc liên quan đến kháng sinh và 30% chi phí thuốc có thể tiết kiệm được thông qua chương trình giám sát kháng sinh. Thực tế cho thấy có nhiều chỉ số tỷ lệ này không phải là 30% mà là 70%.
PGS Hoàng Anh cho rằng, trên lâm sàng khi kê đơn người bệnh sử dụng kháng sinh, bác sĩ cần trả lời 5 câu hỏi: (1) Bệnh nhân có cần sử dụng kháng sinh không; (2) Kê đơn, chọn kháng sinh nào; (3) Có cần phối hợp kháng sinh; (4) Với một kháng sinh liều, chế độ liều như thế nào; (5) Bao lâu dừng kháng sinh, lúc nào thay đổi kháng sinh, việc theo dõi bệnh nhân như thế nào, đánh giá sớm ngày thứ 3, ngày thứ 5, ngày thứ 7; diễn tiến lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng; có phải “lên thang” đổi kháng sinh mạnh, hay là không “lên thang” giữ nguyên phác đồ hoặc cần “xuống thang”, đổi kháng sinh phổ hẹp hơn, chuyển đường tiêm sang đường uống…
Nghi Anh