Tính đến ngày 24/3/2020, Việt Nam có 03 trường hợp mắc bệnh Covid-19 phải thở máy, lọc máu, can thiệp ECMO tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, Bộ Y tế liên tục hội chẩn chuyên môn điều trị.
Theo các chuyên gia y tế, thở máy còn gọi là thông khí cơ học hay hô hấp nhân tạo bằng máy được sử dụng khi thông khí tự nhiên không đảm bảo chức năng của mình. Thở máy nhằm cung cấp một sự trợ giúp nhân tạo về thông khí và oxy hóa. Trong quá trình điều trị, đánh giá người bệnh thở máy có vai trò hết sức quan trọng trong đánh giá tình trạng máy thở và người bệnh. Chỉ định của thở máy là người bệnh có cơn ngừng thở, suy hô hấp cấp; hỗ trợ hô hấp để giảm bớt công co hô hấp, giảm bớt gánh nặng cho tim. Chỉ định cho những trường hợp bệnh nhân hậu phẫu có biến chứng hô hấp và tuần hoàn.
Biến chứng của thở máy, đối với nhu mô phổi và phế nang có thể gây vỡ phế nang, gây tràn khí màng phổi; chảy máu phổi và tắc mạch phổi do khí; phân bố khí trong phổi không đều; đối với rối loạn chuyển hóa biến chứng thở máy gây nhiễm toan hô hấp, nhiễm kiềm hô hấp; đối với tim mạch gây giảm cung lượng tim, tăng gánh nặng tim phổi, suy tim, giảm tuần hoàn não. Những biến chứng khác gồm rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiết niệu, loét ép, nhiễm khuẩn.
Các bác sĩ thường sẽ cài đặt cho người bệnh các thông số thở máy như nồng độ O2 trong khí hít vào (FiO2) khoảng 21%-100%; Thể tích khí lưu thông trong 1 lần thở (VT) bình thường 8-12 ml/kg; Tần số thở (RR) bình thường 10-20 lần/phút; Thể tích khí trung bình trao đổi qua phổi trong 1 phút (VE) bình thường 5-10 lần/phút; Tỷ số thời gian hít vào/thở ra trung bình là 1/2 hoặc 1/3.
Có những thông số khác như lưu lượng dòng đỉnh; áp lực cần để mở phế nang; áp lực cuối thì thở ra giúp hạn chế xẹp phế nang; áp lực dương đường thở liên tục giúp duy trì liên tục trong đường thở khi bệnh nhân thở tự nhiên. Nhịp thở bắt buộc là nhịp thở được kiểm soát bởi máy thở; nhịp tự thở là nhịp thở được kiểm soát bởi bệnh nhân; dung tích cặn chức năng là thể tích khí còn lại trong phổi ở cuối thì thở ra.
Các chuyên gia hồi sức cho biết, các vấn đề liên quan đến bệnh nhân và máy thở là người bệnh không dung nạp với máy thở như người bệnh thở gắng sức, lo lắng, kích thích, suy hô hấp; máy thở không đồng thời với người bệnh; báo động trên máy thở. Bệnh nhân thở máy không đồng nghĩa với việc bệnh nhân được đảm bảo thông khí đầy đủ.
Các bác sĩ phải đánh giá bệnh nhân một cách toàn diện, các tiêu chí xem xét là tình trạng huyết động, độ bão hòa O2 máu, tình trạng tăng tiết đờm, hệ thống kết nối; đánh giá tình trạng lo lắng, đau của người bệnh. Về nguyên nhân tăng sức cản đường thở có thể do bệnh nhân cắm ống; ống nội khí quản bị tắc, bị gập, bệnh nhân ho, tình trạng tăng tiết đờm, co thắt phế quản; nhịp thở nhanh. Tăng sức cản đường thở do giảm khả năng đàn hồi của phổi xảy ra do phù phổi, viêm phổi, xẹp phổi, lệch ống nội khí quản; tràn khí màng phổi. Đối với nguyên nhân ngoài phổi là do tư thế bệnh nhân; co cơ bụng; tăng áp lực ổ bụng lên cơ hoành trong cổ trướng, bụng chướng hơi; tình trạng run cơ, chấn thương thành ngực, dị dạng lồng ngực.
Tùy theo vấn đề gây ra các báo động, các bác sĩ sẽ tìm nguyên nhân và xử trí; Đối với người điều dưỡng, khi chăm sóc người bệnh thở máy có 10 điều chú ý đó là đánh giá chức năng hô hấp, nếu bệnh nhân tăng tiết đờm dãi, hút đờm khi cần thiết; theo dõi tri giác, thần kinh bệnh nhân; thở máy, chức năng thận; đánh giá ổn định huyết động, kiểm soát bóng chèn; giao tiếp của người bệnh thở máy; đánh giá mức độ đau và nhu cầu giảm đau; đánh giá ngăn ngừa sự nhiễm khuẩn liên quan đến thở máy; đánh giá tình trạng dinh dưỡng; đánh giá tình trạng của máy thở. Đối với đánh giá chức năng hô hấp, người điều dưỡng sẽ lấy những dấu hiệu sinh tồn, đếm nhịp thở, chú ý những thay đổi so với lần trước; kiểm tra độ bão hòa oxy (SpO2); đáp ứng với máy thở, tăng tiết đờm dãi, số lượng, màu sắc đờm dãi… Đánh giá người bệnh màu sắc da, niêm mạc; lồng ngực có di động theo nhịp thở vào và thở ra của máy; có đều 2 bên không, nếu không đều hay chỉ di động một bên ngực thì kiểm tra lại vị trí ống nội khí quản; Thay đổi đánh giá tình trạng co kéo hõm ức và cơ hoành, người bệnh chống máy, tắt đường thở, thông khí không hiệu quả. Đường thở nhân tạo sẽ làm thương tổn đường thở tự nhiên. Tổn thương phổi do thở máy gồm tổn thương do thể tích, do xẹp/nở lặp lại hoặc tổn thương sinh học./.
Anh Huy