Huyết áp là áp lực của máu lên thành động mạch. Huyết áp được xác định dựa trên 2 chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.
Huyết áp tâm thu ứng với giai đoạn tim co bóp tống máu đi, có giá trị cao hơn huyết áp tâm trương do dòng máu trong động mạch lúc này đang được tim đẩy đi. Huyết áp tâm trương ứng với giai đoạn giãn nghỉ giữa 2 lần đập liên tiếp của tim, có giá trị thấp hơn huyết áp tâm thu do mạch máu lúc này không phải chịu áp lực tống máu từ tim.
Theo hướng dẫn điều trị cập nhật của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC) năm 2018, huyết áp được phân loại: huyết áp tối ưu dưới 120/80 mmHg; Huyết áp bình thường từ 120/80 mmHg trở lên; Huyết áp bình thường cao từ 130/85 mmHg trở lên; Tăng huyết áp độ 1 từ 140/90 mmHg trở lên; Tăng huyết áp độ 2 từ 160/100 mmHg trở lên; Tăng huyết áp độ 3 từ 180/110 mmHg trở lên. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc khi huyết áp tâm thu từ 140mmHg trở lên trong khi huyết áp tâm trương dưới 90mmHg. Tiền tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu > 120-139 mmHg và Huyết áp tâm trương > 80-89 mmHg.
Theo các chuyên gia tim mạch, hầu hết bệnh nhân tăng huyết áp đều không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ ràng nào, mặc dù bệnh đã tiến triển khá nặng. Một số bệnh nhân có triệu chứng thoáng qua: đau đầu, khó thở hoặc hiếm hơn là chảy máu cam. Các biến chứng tim mạch có thể xuất hiện đột ngột và có khi gây tử vong cho người bệnh, do vậy tăng huyết áp được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”. Mục tiêu điều trị tăng huyết áp thường giữ cho huyết áp bệnh nhân ổn định ở mức dưới 140/90 mmHg. Đối với người bệnh tăng huyết áp kèm theo đái tháo đường hoặc bệnh thận mãn tính, huyết áp điều trị ổn định dưới mức 130/80 mmHg. Tùy tình trạng bệnh của người bệnh, bác sĩ chuyên khoa tim mạch sẽ có cách điều trị thuốc khác nhau. Người bệnh cần uống thuốc điều trị theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. Trong quá trình diễn biến của bệnh, bác sĩ sẽ theo dõi, có thể thay đổi, tăng giảm liều, phối hợp thêm thuốc hoặc bỏ bớt thuốc cho đến khi xác định được phác đồ điều trị phù hợp nhất với bệnh nhân. Người bệnh cần thông báo cho bác sĩ về các tác dụng không mong muốn trong khi dùng thuốc. Điều trị tăng huyết áp là điều trị cả đời, người bệnh không tự ý ngừng điều trị.
Các bác sĩ tim mạch lưu ý, có những trường hợp đến bệnh viện trong tình trạng tăng huyết áp đột ngột đã gây tổn thương cơ quan đích. Người bệnh đến bệnh viện khi thấy đột ngột yếu liệt nửa người, miệng méo, đau ngực, khó thở, ho ra máu, nhìn mờ, chảy máu cam hay lơ mơ, chậm tiếp xúc. Những trường hợp này nếu huyết áp được kiểm soát trở về bình thường thì tình trạng tổn thương cơ quan đích khó khôi phục như bình thường. Do vậy, ở người tăng huyết áp, khi nhận thấy đau đầu, đau gáy, cứng cổ, chóng mặt, buồn nôn, nôn ói hay chỉ là cảm giác bứt rứt, lo lắng khó chịu mơ hồ, người bệnh cần nhanh chóng tìm chỗ ngồi nghỉ, đo huyết áp kiểm tra ngay lập tức.
Nguyên nhân tăng huyết áp đột ngột có thể do người bệnh chủ quan thấy huyết áp ổn định nên không uống thuốc, quên uống thuốc. Một số bệnh nhân do dùng thuốc giảm đau hoặc uống thêm thuốc chữa cảm cúm, viêm nhiễm. Có người bệnh do hút thuốc lá, ăn quá mặn nhiều muối và chất béo bão hòa, hoặc do lo lắng, căng thẳng, mất ngủ, dùng các chất kích thích trà, cà phê, bia, rượu…
Đối với việc giảm ăn muối, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo là giải pháp giúp giảm nguy cơ bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch cũng như nhiều vấn đề sức khỏe khác. Vì vậy để huyết áp giảm được từ 2-8 mmHg, giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường, tim mạch cần chú ý bảo đảm lượng muối mỗi ngày của chúng ta nên dưới 5g. Ưu tiên nên chọn thực phẩm tươi thay cho món mặn chế biến sẵn như thịt muối, cá hộp, thịt xông khói, xúc xích, giò chả, dưa muối, cà muối, mì ăn liền, bim bim, hạt điều rang muối.
Về chế biến món ăn, nên là món luộc, hấp thay vì món kho, rim, rang. Khi nấu nếu muốn gia giảm vị mặn, người nấu nên nếm thức ăn khi thêm gia vị để đảm bảo cho vào lượng vừa đủ, không cho quá nhiều. Mì chính là gia vị có vị ngọt, nhưng trong thành phần có natri, do vậy người nấu ăn cũng nên hạn chế lạm dụng mỳ chính để tăng vị ngọt cho món ăn.
Các chuyên gia dinh dưỡng lưu ý, nên giảm ăn muối một cách từ từ để cơ quan cảm nhận vị giác có thể dần thích nghi. Có thể giảm lượng gia vị mặn bằng cách chế biến với các loại gia vị khác để tăng cảm giác của vị giác. Nấu ăn ở nhà là biện pháp tốt giúp kiểm soát lượng muối ăn vào. Hạn chế chấm nước chấm, nước mắm. Nước chấm nên pha loãng, dùng thêm gia vị chanh, ớt, tỏi để tăng vị giác, bù cho vị mặn bị bớt đi.
Nên sử dụng muối và bột canh có chứa I-ốt để phòng chống bướu cổ, thiểu năng trí tuệ và các rối loạn khác do thiếu I-ốt.
Các chị em nội trợ cần giảm dần gia vị khi nấu ăn, dùng gia vị khác như chua, cay hoặc các loại rau thơm phối hợp khi chế biến để làm tăng vị ngon của thực phẩm và giảm độ mặn.
Chúng ta hãy nhớ “Chấm nhẹ tay, giảm ngay đồ mặn”.
Văn Hanh