
Tại Hội nghị tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia Dân số- Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2011-2015, BS.CKII Huỳnh Thị Hiên- Quyền Chị cục trưởng Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình tỉnh đã nhấn mạnh kết quả giảm mức sinh của tỉnh tương đối ổn định; từ năm 2011, Khánh Hòa được Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình xếp vào một trong 24 tỉnh/ thành phố có mức sinh thấp 1,93 con/ phụ nữ, dưới mức sinh thay thế. Tỷ suất sinh thô xu thế giảm sinh được duy trì liên tục từ 16,65‰ năm 2010 xuống 16,3‰ năm 2011 và 15,28‰ năm 2014, dự ước năm 2015 là 15,08‰, bình quân giai đoạn 2011-2015 tỷ suất sinh thô giảm 0,32‰/ năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch hàng năm trung ương giao, cao hơn chỉ tiêu Nghị quyết tỉnh Đảng bộ khóa XVI và Hội đồng nhân dân tỉnh khóa V đề ra (0,25‰).
Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) giai đoạn 2005-2010 mức sinh không ổn định (tăng từ 2,0 con/ phụ nữ năm 2006 lên 2,14 con/ phụ nữ năm 2007 và 2,18 con/ phụ nữ năm 2008; từ 2,04 con/ phụ nữ năm 2009 lên 2,06 con/ phụ nữ năm 2010. Sau năm 2010 mức sinh có xu hướng giảm liên tục và ổn định từ 2,06 con năm 2010 xuống còn 1,88 con năm 2014, ước năm 2015 là 1,88 con/ phụ nữ.
Cũng theo BS.Huỳnh Thị Hiên, những khó khăn gặp phải hiện nay của công tác Dân số- KHHGĐ là nguồn lực đầu tư cho chương trình mục tiêu Dân số ngày càng giảm dần, kinh phí dành cho các hoạt động truyền thông, giáo dục trong những năm gần đây không đáp ứng được nhu cầu, do đó không có điều kiện xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt ở cơ sở.
Kết quả thực hiện công tác Dân số- KHHGĐ trên địa bàn tỉnh chưa đồng đều, mức sinh ở một số địa phương vẫn còn cao so với mặt bằng chung; tỷ suất sinh ở hai huyện miền núi vẫn còn cao trên 20‰ (gấp 1,34 lần so bình quân chung của tỉnh); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn trên 21% (gấp 2,2 lần bình quân chung của tỉnh).
Công tác Dân số-KHHGĐ chậm được xã hội hóa, chưa phát huy và huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng và xã hội cho công tác DS-KHHGĐ. Chưa có chính sách, cơ chế rõ ràng phù hợp để khuyến khích các cơ sở tư nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ về DS-KHHGĐ.
Tổ chức bộ máy chưa thực sự ổn định, ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần đội ngũ cán bộ, hạn chế trong việc đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cũng như tự học tập nghiên cứu nâng cao trình độ của mỗi cán bộ; chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở thiếu thống nhất trong cả nước còn phụ thuộc vào cơ chế, chính sách, nguồn lực của từng tỉnh.
Công tác phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể ở các cấp được củng cố và thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, việc lồng ghép các chương trình trong kế hoạch chung của ngành, đoàn thể thiếu thường xuyên và đồng bộ do kinh phí hạn chế.
Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành vẫn đang trong thời gian hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin một cách đầy đủ cho công tác quản lý điều hành ở các cấp; việc thực hiện chế độ báo cáo chưa đảm bảo tính kịp thời và chất lượng của thông tin số liệu.
Hệ thống dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở tuyến cơ sở tuy đã được đầu tư nâng cấp nhưng còn thiếu trang thiết bị đạt chuẩn, một số kỹ thuật dịch vụ cao như soi tươi, siêu âm, xét nghiệm…phần lớn ở tuyến cơ sở chưa thực hiện được. Đặc biệt, chất lượng dịch vụ SKSS/KHHGĐ ở vùng núi, vùng xa, hải đảo còn hạn chế. Việc cung ứng các phương tiện tránh thai từ Trung ương chưa linh hoạt, chưa chủ động được nguồn cung cấp. Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ Dân số- KHHGĐ/SKSS chậm triển khai; chương trình tiếp thị xã hội phương pháp tránh thai gặp khó khăn do nguồn cung gián đoạn.
Công tác Dân số-KHHGĐ trong thời gian đến cũng phải gặp nhiều thách thức, cụ thể như quy mô dân số chưa ổn định, tuy mức sinh toàn tỉnh đã ở mức thấp (1,88 con/ phụ nữ), nhưng dân số tiếp tục tăng do nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vẫn còn cao (ảnh hưởng của mức sinh quá khứ); nhu cầu phương tiện tránh thai tiếp tục tăng trong thời gian tới, điều này cho thấy mục tiêu duy trì mức sinh thấp, ổn định quy mô dân số vào năm 2020 là chưa bền vững nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp.
Chất lượng dân số còn thấp, chất lượng dân số đã được cải thiện nhưng một số chỉ số liên quan đến chất lượng dân số như tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuồi ở một số vùng địa phương còn cao (Khánh Sơn, Khánh Vĩnh) và vẫn còn tình trạng sinh con tại nhà; tỷ lệ trẻ em bị dị tật bẩm sinh ngày càng tăng đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Tỷ số giới tính khi sinh (trẻ em trai/ 100 trẻ em gái) tăng nhanh; thực tế cho thấy giai đoạn 2002-2012 tăng 0,8 điểm % sau 10 năm; giai đoạn 2011-2015 tăng từ 109,1 năm 2011 lên 109,8 năm 2015 (tăng 0,7 điểm % sau 5 năm), xấp xỉ bằng 10 năm trước đó và đang có chiều hướng tiếp tục gia tăng nếu không có sự can thiệp hiệu quả.
Tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyến thống đã và đang xảy ra ở một số địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống chủ yếu xảy ra ở vùng có kinh tế khó khăn và ở người đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều nơi là hủ tục lạc hậu lâu đời không thể sớm khắc phục được.
Đối với chính sách an sinh xã hội cho người già, tỷ lệ người cao tuổi đang tăng nhanh, hiện chiếm 10,7% dân số; vấn đề đặt ra cho chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi trong thời gian đến cũng sẽ là một thách thức lớn của địa phương.
Nghi Anh