Theo đề án Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam ban hành ngày 3/12/2012 của Bộ Y tế, Tổng số tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam và thuốc ngoại nhâp của bệnh viện các tuyến năm 2010 của 1018 bệnh viện là 15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009, trong đó tỷ lệ tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam chiếm 38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%).
Tổng số tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam tại 34 bệnh viện trung ương năm 2010 là hơn 378 tỷ đồng (11,9%), giảm nhẹ so với năm 2009 (12,3%).
Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại 307 bệnh viện tỉnh/thành phố năm 2010 là 33,9% (hơn 2.232 tỷ đồng), tăng nhẹ so với năm 2009 (33,2%). Tỷ lệ dùng thuốc sản xuất tại Việt Nam tại 559 bệnh viện huyện năm 2010 là 61,5% ( 2.900 tỷ đồng) so với tổng số tiền mua thuốc. Tỷ lệ này tăng hơn so với năm 2009 (60,4%).
Đối với tiền sử dụng thuốc theo đối tượng: Tổng số tiền thuốc đã sử dụng năm 2010 là trên 13,7 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó cơ cấu sử dụng thuốc theo đối tượng hầu như không thay đổi so với năm trước, tiền thuốc BHYT chiếm 65,9%, đối tượng viện phí trực tiếp chiếm 28,7% trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng.
Đối với sử dụng thuốc trong bệnh viện: năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4). Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009. Vitamin giảm từ 6,5% (năm 2009) xuống còn 4,7% (năm 2010). Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh. Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và vitamin, nâng cao chất lượng điều trị.
Với mục tiêu đến năm 2020, tỉ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước chiếm 22% ở tuyến Trung ương, 50% ở truyến tỉnhvà 75% ở tuyến huyện, Bộ Y tế đã đề ra 04 nhóm giải pháp cơ bản: Một là giải pháp về cơ chế chính sách; hai là giải pháp đối với cơ sở y tế và thầy thuốc; ba là giải pháp đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc; bốn là các giải pháp về truyền thông.
Đối với cơ sở y tế và thầy thuốc, việc triển khai Đề án đã được Lãnh đạo UBND tỉnh/thành phố, các Sở Y tế, các bệnh viện quan tâm, chỉ đạo sát sao. Tại nhiều bệnh viện, lãnh đạo bệnh viện chỉ đạo xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện với chính sách ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Nhiều địa phương, bệnh viện đạt kết quả ấn tượng về sử dụng thuốc sản xuất trong nước và đạt mục tiêu của Đề án. Theo báo cáo, năm 2018 tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc trong nước tuyến huyện đã tăng lên 76,62%, tuyến tỉnh tăng lên 57,03%, nếu tính cả tuyến huyện và tuyến tỉnh thì tăng lên 63,53%. Trên 50% các tỉnh đạt tỷ lệ từ 50% trở lên về giá trị sử dụng thuốc trong nước.
Phải nói rằng người đứng đầu cơ sở y tế xây dựng kế hoạch và tiêu chí phấn đấu để chỉ đạo Hội đồng thuốc & điều trị đơn vị tăng tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu điều trị hiệu quả và đáp ứng mục tiêu của Đề án.
Người đứng đầu cơ sở y tế xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát các bác sĩ, thầy thuốc trong công tác tư vấn, kê đơn thuốc cho người bệnh, từ đó hạn chế lạm dụng kê đơn thuốc nhập khẩu đắt tiền, bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu của Đề án.
Đối với bác sỹ khám bệnh, kê đơn thuốc và điều trị: Có trách nhiệm tư vấn, kê đơn thuốc và điều trị cho người bệnh bằng thuốc sản xuất tại Việt Nam, hạn chế lạm dụng kê đơn thuốc nhập khẩu đắt tiền, bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu của Đề án.
Người đứng đầu cơ sở y tế tăng cường công tác truyền thông, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ đối với các dịch vụ y tế và thuốc sản xuất tại Việt Nam để người dân từng bước nhận thức đầy đủ về khả năng cung cấp và chất lượng của các sản phẩm thuốc chữa bệnh trong nước đã sản xuất được.
Hồng Sơn