
Chậm phát triển trí tuệ là một dạng tật khá phổ biến ở trẻ khuyết tật; so với trẻ bình thường, trẻ chậm phát triển trí tuệ thường gặp một số trở ngại trong giao tiếp hơn
Trong những năm qua, Trung tâm Phục hồi Chức năng- Giáo dục Trẻ em Khuyết tật tỉnh Khánh Hòa đã sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp để phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh như sử dụng trò chơi, sử dụng các bài thơ, bài đồng dao, các bài hát…trong đó có việc sử dụng những “câu chuyện xã hội” để phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh chậm phát triển trí tuệ.
Tác giả Cáp Xuân Lâm tiến hành nghiên cứu đề tài “Sử dụng phương pháp câu chuyện xã hội để giúp phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh chậm phát triển trí tuệ lớp Rạng Đông năm 2015 tại Trung tâm Phục hồi Chức năng- Giáo dục Trẻ em Khuyết tật Khánh Hòa”.
Theo tác giả nghiên cứu, “câu chuyện xã hội” là quá trình làm ra một sản phẩm phục vụ người mắc bệnh rối loạn phổ tự kỷ. Trước tiên, đó là một quá trình, vì “Câu chuyện xã hội” đòi hỏi những cân nhắc và tôn trọng cách nhìn nhận của người tự kỷ. Đó là một câu chuyện ngắn với một số đặc điểm, để miêu tả những tình huống, khái niệm hoặc kinh nghiệm xã hội làm theo một khuôn mẫu được học sinh tự kỷ chấp nhận.
Qua nghiên cứu phân tích, tác giả Cáp Xuân Lâm đã áp dụng phương pháp “Câu chuyện xã hội” vào giảng dạy cho 10 học sinh chậm phát triển trí tuệ lớp Rạng Đông, kết quả cho thấy các em học sinh có nhiều tiến bộ trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp bao gồm cả 05 nhóm kỹ năng, cụ thể:
Kỹ năng tập trung chú ý: trước thực nghiệm có 60% học sinh ở mức độ thấp và 40% học sinh ở mức độ trung bình; nhưng sau khi thực nghiệm đã có 20% học sinh đạt ở mức độ tương đối cao, 80% học sinh đạt ở mức độ trung bình, không có học sinh nào ở mức độ thấp ở nhóm kỹ năng này.
Kỹ năng bắt chước: trước thực nghiệm có 70% học sinh ở mức độ thấp và 30% học sinh ở mức độ trung bình; nhưng sau khi thực nghiệm đã có 40% học sinh đạt ở mức độ tương đối cao, 50% học sinh đạt ở mức độ trung bình, chỉ còn 10% học sinh ở mức độ thấp.
Kỹ năng luân phiên, trước thực nghiệm có 80% học sinh ở mức độ thấp và 20% học sinh ở mức độ trung bình; nhưng sau khi thực nghiệm đã có 10% học sinh đạt ở mức độ tương đối cao, 80% học sinh đạt ở mức độ trung bình, chỉ còn 10% học sinh ở mức độ thấp.
Kỹ năng hiểu ngôn ngữ: trước thực nghiệm có 90% học sinh ở mức độ thấp và 10% học sinh ở mức độ trung bình; nhưng sau khi thực nghiệm đã có 10% học sinh đạt ở mức độ tương đối cao, 80% học sinh đạt ở mức độ trung bình, chỉ còn 10% học sinh đạt ở mức độ thấp.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: trước thực nghiệm có 80% học sinh ở mức độ thấp và 20% học sinh ở mức độ trung bình; nhưng sau khi thực nghiệm đã có 30% học sinh đạt ở mức độ tương đối cao, 60% học sinh đạt ở mức độ trung bình, chỉ còn 10% học sinh đạt ở mức độ thấp.
Qua việc sử dụng phương pháp “Câu chuyện xã hội” để dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, bước đầu đã tạo ra sự hứng thú, kích thích sự tham gia trong hoạt động tập thể đã làm cho các cháu có cảm giác thoải mái trong quá trình học tập, học mà chơi chơi mà học. Các “Câu chuyện xã hội” hay, gần gũi; nội dung và hình ảnh minh họa hấp dẫn, thú vị đã giúp cho trẻ tiếp thu nhanh các kiến thức và dễ dàng thay đổi hành vi phù hợp.
Tác giả nghiên cứu cũng đã đưa ra kiến nghị Trung tâm Phục hồi Chức năng- Giáo dục Trẻ em Khuyết tật cần triển khai áp dụng một số “Câu chuyện xã hội” đã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu vào dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ của Trung tâm. Tiếp tục mở rộng đối tượng, phạm vi nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp “Câu chuyện xã hội” áp dụng cho toàn bộ trẻ chậm phát triển trí tuệ đang học tại Trung tâm nhằm đánh giá được tính hiệu quả của phương pháp này. Chỉ đạo giáo viên tiếp tục nghiên cứu sâu về phương pháp “Câu chuyện xã hội” để áp dụng vào dạy học cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại Trung tâm.
Minh Tâm