Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, đái tháo đường thai kỳ là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất cứ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang thai. Tình trạng này thường không có triệu chứng nên khó phát hiện và sẽ biến mất sau 6 tuần kể từ khi sinh.

Những người có nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ là người thừa cân, béo phì; trong gia đình có người bị đái tháo đường; tiểu sử sinh con lớn hơn hoặc bằng 4.000 gam; bản thân có tiền sử đái tháo đường thai kỳ trước đó; xét nghiệm đường niệu dương tính. Người mẹ tuổi lớn hơn hoặc bằng 35 cũng là yếu tố nguy cơ hoặc có tiền sản khoa như thai chết lưu không rõ nguyên nhân; sảy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân, sinh non, thai dị tật đều có nguy cơ đái tháo đường thai kỳ. Theo thống kê, bệnh đái tháo đường thai kỳ chiếm 3-7% tổng số phụ nữ mang thai. Thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ làm gia tăng tỷ lệ sảy thai, thai lưu, sinh non, tăng huyết áp trong thai kỳ, đa ối, nhiễm trùng tiết niệu, viêm đài bể thận, mổ lấy thai. Về lâu dài, có nguy cơ bệnh tiến triển thành đái tháo đường tuýp 2. Các thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ có nguy cơ xảy ra các tai biến trong quá trình mang thai cao hơn các thai phụ bình thường khác.
Những thai phụ có nguy cơ đái tháo đường thai kỳ nên thực hiện xét nghiệm gọi là nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống, được thực hiện vào giữa tuần thai 24 và 28. Hiệp hội quốc tế nghiên cứu đái tháo đường và thai kỳ (IADPSG) và Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng phương pháp nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gam - 2 giờ.
Theo đó, các bước tiến hành thực hiện xét nghiệm 1 bước 75 gam glucose (với máu tĩnh mạch), ở lần khám 1. Khi thai phụ đến khám lần đầu tiên vào 3 tháng đầu thai kỳ, xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói hoặc glucose huyết tương bất kỳ. Nếu kết quả glucose huyết tương lúc đói lớn hơn hoặc bằng 126mg% là bất thường hoặc glucose huyết tương bất kỳ lớn hơn hoặc bằng 200mg% là bất thường; cần giới thiệu thai phụ điều trị chuyên khoa nội tiết. Ở lần khám sau đó, khi thai kỳ bước vào tuần lễ 24-28, cán bộ y tế tư vấn thai phụ tầm soát đái tháo đường thai kỳ, hướng dẫn ăn uống hợp lý để thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose 75 gam - 2 giờ vào lần khám thai định kỳ tiếp theo.

Các bác sĩ lưu ý, khi thai phụ thực hiện nghiệm pháp đường huyết; 03 ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp chẩn đoán, không ăn chế độ ăn có quá nhiều glucid cũng như không kiêng khem quá mức tránh ảnh hưởng đến kết quả nghiệm pháp. Thai phụ cần nhịn đói 8-12 giờ trước khi làm nghiệm pháp. Cán bộ y tế sẽ lấy 2ml máu tĩnh mạch, định lượng glucose trong huyết tương ở 2 thời điểm 1 giờ và 2 giờ sau uống nước glucose. Trong thời gian làm nghiệm pháp thai phụ không ăn uống gì, được ngồi nghỉ ngơi trong phòng làm nghiệm pháp.
Các chuyên gia nội tiết cho biết, thông thường cơ thể sẽ sản xuất hormon Insuline để giữ lượng đường trong máu ở mức bình thường. Khi mang thai, nồng độ hormon thai kỳ cao hơn bình thường và cơ thể phải tạo ra nhiều Insuline hơn để cân bằng mức glucose trong máu. Ở một số người, cơ thể không tạo ra đủ Insuline khi mang thai, lượng đường máu tăng lên và gây ra bệnh đái tháo đường thai kỳ. Bệnh đái tháo đường thai kỳ có thể tự hết sau khi sinh con. Tuy nhiên, các chuyên gia nội tiết lưu ý, những phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ nếu không kiểm soát tốt đường máu khi mang thai sẽ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường trong những lần mang thai tiếp theo. Có trường hợp bị đái tháo đường nhẹ trước khi mang thai, do không phát hiện ra bệnh làm cho bệnh tiến triển nặng hơn sau sinh con, có khi mắc bệnh đái tháo đường cả đời.
Để phòng bệnh đái tháo đường thai kỳ, các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ mang thai cần khám thai thường xuyên hơn để theo dõi sức khỏe cả mẹ và bé, theo dõi lượng đường trong máu, có thể tự sử dụng máy đo đường máu. Cần thực hiện chế độ ăn lành mạnh, khi mang thai ăn đều 3 bữa và 2-3 bữa nhẹ mỗi ngày để tránh sụt giảm hoặc tăng đột biến đường máu. Sản phụ cần theo dõi thường xuyên cân nặng của mình, nếu tăng cân quá nhanh hoặc thừa cân cũng có thể tăng glucose lên nhanh. Để giúp giữ lượng đường máu bình thường cần tập thể dục thường xuyên với các bài tập phù hợp với khả năng mỗi người. Nên tập 30 phút với cường độ bài tập vừa phải, ít nhất 5 ngày/tuần hoặc đi bộ ít nhất 150 phút mỗi tuần. Ngoài ra cũng nên đi bộ 10-15 phút sau mỗi bữa ăn, việc này sẽ giúp kiểm soát đường máu tốt hơn./.
Quỳnh Anh