
Từ ngày 26-28/01/2015, Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản và Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đã tham dự lớp đào tạo giảng viên truyền thông về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Mục tiêu khóa học giúp học viên hiểu rõ các nội dung cần truyền thông về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; tổ chức thực hiện được các buổi thảo luận nhóm cho phụ nữ mang thai về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, sử dụng thành thạo các sản phẩm tài liệu truyền thông hỗ trợ và thực hiện tốt các buổi tư vấn cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Đối với tư vấn trước xét nghiệm HIV trong dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con có mục đích giúp phụ nữ mang thai hiểu tại sao cần xét nghiệm HIV và tự quyết định làm xét nghiệm; sẵn sàng đón nhận bất cứ kết quả xét nghiệm; cung cấp thông tin về HIV/AIDS; lây truyền HIV từ mẹ sang con, các giải pháp làm giảm nguy cơ dù có xét nghiệm hay không và cung cấp thông tin và điều kiện tiếp cận cho quá trình điều trị và chăm sóc người phụ nữ mang thai.
Theo báo cáo của UNAIDS, mỗi ngày trên thế giới có gần 1.200 trẻ em bị nhiễm HIV, hầu hết trẻ bị nhiễm HIV lây theo đường mẹ nhiễm HIV truyền sang con trong thời gian mang thai, lúc đẻ và khi cho con bú. Một công bố của tổ chức Y tế thế giới trong chiến lược phòng lây truyền mẹ con cho rằng lây truyền HIV từ mẹ sang con hoàn toàn có thể phòng tránh được. Tuy nhiên các nghiên cứu của thế giới và tại Việt Nam cho thấy độ bao phủ dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện còn thấp, thiếu kiến thức về HIV/AIDS và phòng lây truyền từ mẹ sang con; thiếu thông tin dịch vụ phòng lây truyền mẹ con và sự kỳ thị phân biệt đối xử của xã hội đã làm cho tỷ lệ sử dụng dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện ở phụ nữ mang thai còn thấp.
Một nghiên cứu trên 240 phụ nữ đã sinh con trong 6 tháng qua của ThS Võ Thị Hoàng Loan tại TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang năm 2011 cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức cần thiết về HIV/AIDS chỉ đạt 44%. Chưa đến 1/3 đối tượng nghiên cứu có thái độ cần thiết về HIV/AIDS. Thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV vẫn còn tồn tại, kênh thông tin cho đối tượng nghiên cứu tiếp cận chủ yếu là kiến thức HIV/AIDS từ ti vi. Nghiên cứu cũng phát hiện ra nhiều rào cản từ phía người cung cấp dịch vụ như truyền thông xét nghiệm HIV miễn phí chỉ đáp ứng khoảng 30% tổng số phụ nữ mang thai, cán bộ y tế không chủ động tư vấn, cung cấp thông tin về dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện (TVXNTN) cho phụ nữ khám thai, các cơ sở y tế cũng chưa đủ điều kiện để thiết lập phòng theo quy định, đặc biệt chưa đảm bảo tính riêng tư.
Rào cản từ phía phụ nữ mang thai bao gồm hiểu biết về HIV/AIDS và thông tin về dịch vụ TVXNTN hạn chế; phụ nữ mang thai chưa có thái độ tích cực đối với người bị nhiễm HIV; sự lo lắng về tiết lộ thông tin kết quả xét nghiệm HIV và phụ nữ mang thai e ngại đến với dịch vụ TVXNTN do sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử.
Vì vậy để tỷ lệ phụ nữ mang thai sử dụng dịch vụ TVXNTN tăng nên tăng cường công tác truyền thông kiến thức về HIV/AIDS, đặc biệt kiến thức phòng, chống kỳ thị và phân biệt đối xử thường xuyên và liên tục; quảng bá lợi ích và nơi cung cấp dịch vụ TVXNTN, chú trọng kênh truyền thông qua ti vi; tư vấn sớm cho thai phụ khi đến khám thai tại các cơ sở sản khoa, nên lồng ghép nội dung tư vấn HIV với các bệnh khác cho thai phụ; trang bị phòng tư vấn đảm bảo tính riêng tư tại các cơ sở sản khoa, đặc biệt là bệnh viện đa khoa và các Trạm Y tế xã, phường và tổ chức tư vấn, xét nghiệm HIV miễn phí lưu động tại các xã/phường, đặc biệt ở những xã vùng sâu, vùng xa.
Còn nghiên cứu của ThS Nguyễn Thị Hải Nam – Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bình Định trên 300 sản phụ sau khi sinh con tại khoa sản bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cho thấy nơi đăng ký quản lý thai nghén của đối tượng nghiên cứu tập trung nhiều nhất là tại phòng khám tư nhân (48,7%), kế tiếp là tại Trạm Y tế (17%); tỷ lệ đối tượng nghiên cứu được tư vấn trước xét nghiệm rất thấp (22,7%) và tỷ lệ đối tượng nghiên cứu làm xét nghiệm HIV trong thời gian mang thai còn thấp (39,3%), gần một nửa trong số họ không làm xét nghiệm HIV khi mang thai chủ yếu là do không biết phải làm xét nghiệm (52,9%), không được đề nghị làm xét nghiệm (24,4%) và có 22,7% đối tượng nghiên cứu cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm HIV; chỉ có 18,3% sử dụng dịch vụ tư vấn xét nghiệm (TVXN) HIV (tư vấn trước xét nghiệm, xét nghiệm HIV, tư vấn sau xét nghiệm).
Nghiên cứu đã đưa ra những kiến nghị như cần thường xuyên quảng bá các thông tin về dịch vụ TVXN và dự phòng lây truyền mẹ con trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên đài phát thanh truyền hình địa phương; gắn các hoạt động TVXN HIV cho phụ nữ mang thai (PNMT) với quy trình khám thường quy tại dịch vụ sản khoa. Phòng khám tư nhân là nơi chủ yếu PNMT lựa chọn đến chăm sóc, quản lý thai nghén (48,7%) do vậy chương trình phòng lây truyền mẹ con tại Bình Định nên phối hợp chặt chẽ với các phòng khám tư nhân để tổ chức tư vấn về lợi ích của việc làm xét nghiệm HIV sớm và chuyển tiếp PNMT đến các cơ sở y tế để sử dụng dịch vụ TVXN HIV trên địa bàn tỉnh. Một số biện pháp cụ thể nên tiến hành với các cơ sở y tế tư nhân là: tổ chức đào tạo kỹ năng TVXN HIV cho cán bộ y tế sản các tuyến và phòng khám tư nhân; triển khai công tác giám sát, kiểm tra dịch vụ y tế tư nhân thực hiện đúng quy định chuyên môn về tư vấn HIV/AIDS và cung cấp thông tin về dịch vụ TVXN HIV cho PNMT khi đến khám thai.
Theo báo cáo kết quả công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2014 của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa số bệnh nhân người lớn được điều trị ARV là 501 người; số bệnh nhân trẻ em được điều trị ARV là 24 em; tỷ lệ trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm và nghi nhiễm HIV được làm xét nghiệm chẩn đoán sớm nhiễm HIV là 100%; tỷ lệ PNMT được xét nghiệm HIV đạt 56,6% (kế hoạch là 75%); tỷ lệ bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV đạt 68,5% (kế hoạch là 75%); tỷ lệ PNMT có HIV (+) được điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con là 100%; tỷ lệ người nhiễm HIV mắc lao được điều trị đồng thời lao và ARV là 81%.
Số lượt PNMT được tư vấn trước xét nghiệm gần 19.000 lượt, trong đó số lượt được xét nghiệm HIV là gần 12.000 lượt (đạt 63%). Số lượt bà mẹ được xét nghiệm HIV trong thời kỳ mang thai hơn 9.000 người (chiếm tỷ lệ 77,5%). Số PNMT nhiễm HIV đã sinh con được điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong năm 2014 là 12 bà mẹ. Trong năm 2014 Ban quản lý dự án Quỹ Toàn cầu – Bộ Y tế đã hướng dẫn tỉnh triển khai mô hình thí điểm điều trị dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con bằng thuốc ARV không phụ thuộc vào lâm sàng hoặc số lượng tế bào CD4 (option B+).
Với những kết quả đạt được như trên là sự nỗ lực lớn, tuy nhiên chương trình dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn như chưa quản lý được số PNMT TVXN HIV, sự lồng ghép phối hợp giữa TVXN HIV PNMT với chăm sóc sức khỏe sinh sản các tuyến tỉnh, huyện, xã chưa tốt, còn nhiều PNMT nhiễm HIV mất dấu, không đủ nguồn kinh phí để thực hiện xét nghiệm HIV cho tất cả các PNMT./.
Thủy Tiên