Theo báo cáo của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Khánh Hòa, hiện nay các Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình các huyện, thị xã, thành phố đã và đang làm tốt công tác tham mưu đề xuất chính quyền địa phương tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đầu tư cho chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ).
Riêng về đội ngũ cán bộ, công chức dân số cấp tỉnh và huyện thường xuyên được đào tạo, tập huấn những kiến thức cơ bản về chuyên ngành và nâng cao năng lực công tác, năng lực phối hợp triển khai các hoạt động tại địa phương. Tại tuyến xã, phường, thị trấn có 137 cán bộ chuyên trách/137 xã, phường, thị trấn. Các cán bộ chuyên trách này đang dần được chuẩn hóa để nâng cao chất lượng công tác đảm bảo chức năng nhiệm vụ được giao. Đối với mạng lưới cộng tác viên DS-KHHGĐ tại các thôn, xóm, tổ dân phố, cụm dân cư có gần 2.000 người. Phương thức quản lý là mỗi cộng tác viên quản lý 100 – 180 hộ, vùng núi từ 30 – 80 hộ gia đình. Đây là đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở được đánh giá có lòng nhiệt tình, tâm huyết với nghề, thực hiện tốt phương châm đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng để kịp thời đưa các nội dung thực hiện chính sách DS-KHHGĐ đến tận người dân.
Chế độ chính sách cho cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở theo tinh thần Nghị quyết 47-NQ/TW và chương trình hành động của Tỉnh Ủy đã được triển khai thực hiện hiệu quả: cán bộ dân số, gia đình và trẻ em cấp xã được hưởng mức phụ cấp của cán bộ không chuyên trách 450.000 đồng/tháng (từ 2007 về trước) và nâng lên 645.000 đồng/tháng từ năm 2008. Từ đầu tháng 5/2009 thực hiện Thông tư 05/2008/TT-BYT, ngày 14/4/2008 của Bộ Y tế về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ ở địa phương; cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã, phường, thị trấn được hưởng chế độ hợp đồng, mức lương được hưởng như viên chức sự nghiệp, đến tháng 8/2011 cho đến nay được hưởng thêm 30% phụ cấp ưu đãi nghề. Triển khai mua bảo hiểm y tế tự nguyện theo Quyết định 240/QĐ-TTg, ngày 25/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ (70.000 đ/người/năm) và cộng tác viên dân số được tăng mức thù lao từ 50.000 lên 100.000 đồng/người/tháng.
Một hoạt động của cộng tác viên thực hiện tại cộng đồng là xã hội hóa tiếp thị phương tiện tránh thai trên toàn tỉnh. Theo kết quả ghi nhận tỷ lệ bao cao su là 7%, vòng tránh thai là 15,2%; Đối với kênh thị trường bao cao su đạt 39%, vòng tránh thai 38,8%. Đây là một hoạt động gặp nhiều khó khăn của các cộng tác viên, một phần do người dân vẫn còn tư tưởng ỷ lại được cho không, cấp miễn phí, một lý do khác do thông qua bảo hiểm y tế, người dân ký kết hợp đồng khám sức khỏe hàng năm, không có kinh phí cho truyền thông quảng bá tiếp thị xã hội. Tổng số tiền bán phương tiện tránh thai tiếp thị xã hội năm 2014 là 46,5 triệu đồng.
Hiện tại số con trung bình của mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 1,9 con; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 9,85%; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15 – 49 chiếm hơn 33%; tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 77,3%; tỷ lệ giới tính khi sinh trẻ trai 109/100 trẻ gái.
Thách thức của công tác dân số là số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ vẫn tăng nhanh, số sinh dự báo tiếp tục gia tăng, trong khi khả năng cung ứng hậu cần phương tiện tránh thai theo chương trình mục tiêu quốc gia giảm mạnh hàng năm; số sinh toàn tỉnh mỗi năm trên 15.000 trẻ, nhưng tỷ lệ sàng lọc trước sinh chỉ đạt 2%, sàng lọc sơ sinh 6% là những tỷ lệ còn thấp so với yêu cầu. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang có xu hướng tăng lên, tình trạng tảo hôn của đồng bào miền núi vẫn còn cao, tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, tiền hôn nhân, chăm sóc người cao tuổi kinh phí vẫn còn rất hạn chế. Các nguồn kinh phí chương trình mục tiêu tiếp tục giảm mạnh, khả năng cung ứng miễn phí chương trình DS-KHHGĐ chỉ áp dụng đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó tiếp cận.
Để đạt được các chỉ tiêu của chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2020, định hướng công tác dân số hàng năm; theo BS CKII Huỳnh Thị Hiên – Q.Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh, nhiệm vụ cơ bản nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo quy mô dân số, cơ cấu dân số hợp lý, đảm bảo hậu cần phương tiện tránh thai cung cấp kịp thời, thực hiện tốt xã hội hóa dịch vụ DS-KHHGĐ; ngành DS-KHHGĐ tỉnh còn được đầu tư tăng thêm nguồn lực cho chương trình, xây dựng và mở rộng các mô hình nâng cao chất lượng dân số. Các cấp từ tỉnh, huyện đến xã cần có sự quan tâm, đầu tư thêm ngân sách cụ thể cho các hoạt động như mở rộng mô hình can thiệp sàng lọc phát hiện em bé mắc dị tật bẩm sinh, rối loạn chuyển hóa men G6PD, suy giáp bẩm sinh; mô hình Câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên trẻ; mô hình chăm sóc người cao tuổi; mô hình truyền thông vận động giảm thiểu tảo hôn, hôn nhân cận huyết cho các huyện miền núi; gắn thực hiện chính sách DS-KHHGĐ với chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, đồng thời thực hiện tốt công tác xã hội hóa, người dân có trách nhiệm và đồng thuận tự nguyện chi trả một phần chi phí dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản – KHHGĐ.
Bảo Trâm