Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 thực hiện trọng tâm tại các huyện, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. Theo Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày 13/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành có 74 huyện nghèo thuộc 26 tỉnh và 54 xã đặc biệt khó khăn.
Đối tượng được thụ hưởng trực tiếp trong chương trình là trẻ dưới 16 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; trẻ em sinh sống trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn; phụ nữ mang thai và cho con bú, hộ gia đình, cơ sở y tế, trường học trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn.
Theo Thông tư số 10/2022/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – TB&XH và Quyết định số 1768/QĐ-BYT ngày 30/6/2022 của Bộ Y tế, nhóm chỉ số giám sát thực hiện hoạt động ở trẻ dưới 5 tuổi gồm 8 chỉ số, bao gồm: Số trẻ dưới 5 tuổi được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng; số trẻ em gái dưới 5 tuổi được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng; số trẻ được theo dõi và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính tại cộng đồng; số trẻ em gái được theo dõi và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính tại cộng đồng; số phụ nữ có thai được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng; số bà mẹ có con dưới 5 tuổi và bà mẹ mang thai được tư vấn dinh dưỡng; số trẻ được uống vitamin A; số trẻ được tẩy giun.
Đối với nhóm chỉ số giám sát thực hiện hoạt động ở trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi, bao gồm 5 chỉ số: Số trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi và số trẻ em gái từ 5 đến dưới 16 tuổi bị suy dinh dưỡng được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng; số trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi và số trẻ em gái từ 5 đến dưới 16 tuổi được tư vấn dinh dưỡng; số trẻ gái vị thành niên được uống viên sắt axit folic.
Có 9 chỉ số đánh giá về kết quả thực hiện bao gồm: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thể thấp còi và thể gầy còm; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ từ trên 5 tuổi đến dưới 16 tuổi thể thấp còi; tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi; tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai; tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ em dưới 5 tuổi; tỷ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai; tỷ lệ trẻ từ 6-23 tháng tuổi được ăn bổ sung đúng, đủ và số hộ gia đình nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo được cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng trong tình huống khẩn cấp.
Số trẻ được theo dõi và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính tại cộng đồng là tổng số trẻ từ 0 đến 72 tháng tuổi được phát hiện, điều trị và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính nặng theo hướng dẫn tại Quyết định số 1768/QĐ-BYT và Quyết định số 4487/QĐ-BYT của Bộ Y tế được tính theo 6 tháng và theo năm. Lưu ý khi triển khai trẻ dưới 6 tháng tuổi không sử dụng sản phẩm điều trị.
Địa bàn thực hiện về theo dõi, quản lý suy dinh dưỡng cấp tính tại cộng đồng là huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; trẻ từ 0 đến 72 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng cấp tính nặng thuộc hộ gia đình nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo trên địa bàn tỉnh.
Tương tự đối với chỉ số trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi bị suy dinh dưỡng được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng là tổng số trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi bị suy dinh dưỡng được cung cấp miễn phí sản phẩm dinh dưỡng theo hướng dẫn tại Quyết định số 1768/QĐ-BYT và Quyết định số 4487/QĐ-BYT của Bộ Y tế được tính theo 6 tháng và theo năm. Có hai nhóm triển khai trên địa bàn tỉnh là huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và trẻ từ 0 đến 16 tuổi bị suy dinh dưỡng thuộc hộ gia đình nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo (không bao gồm đối tượng ở huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo).
Tuyến tỉnh, huyện chỉ đạo giám sát, tổng hợp báo cáo; trạm y tế xã triển khai, quản lý, tổng hợp số liệu báo cáo, phối hợp với trường học.
Số trẻ được tư vấn dinh dưỡng là tổng số trẻ từ 5 đến dưới 16 tuổi được tư vấn dinh dưỡng theo hướng dẫn tại Quyết định số 1768/QĐ-BYT và Quyết định số 4487/QĐ-BYT của Bộ Y tế được tính theo 6 tháng và theo năm.
Đối với uống vitamin A là tổng số trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi được uống vitamin A trong chiến dịch tháng 6 và tháng 12 theo quy định của Bộ Y tế.
Đối với số trẻ được tẩy giun là tổng số trẻ từ 2 đến 6 tuổi được uống thuốc tẩy giun định kỳ theo quy định của Bộ Y tế được tính là 6 tháng và 1 năm.
Trẻ gái tuổi vị thành niên từ 12 đến dưới 16 tuổi có kinh nguyệt được uống viên sắt hoặc viên sắt axit folic theo hướng dẫn tại Quyết định số 4944/QĐ-BYT của Bộ Y tế được tính theo 6 tháng và 1 năm.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi là trẻ từ 0 đến 59 tháng tuổi có chỉ số chiều cao/Tuổi Z-Score nhỏ hơn -2 được công bố hàng năm. Đối với suy dinh dưỡng gầy còm là cân nặng/chiều cao Z-Score nhỏ hơn -2 (chung) và nhỏ hơn -3 (mức độ nặng) được công bố hàng năm.
Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế sẽ thực hiện điều tra độc lập với điều tra của tỉnh, Viện Dinh dưỡng sẽ chọn mẫu toàn quốc.
Đối với tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi, tùy theo năng lực thực hiện của tỉnh, không bắt buộc điều tra, đánh giá. Viện Dinh dưỡng sẽ chọn mẫu điều tra trên toàn quốc. Điều này cũng tương tự đối với các nội dung: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai (hàm lượng Hb < 110g/l) ở thời điểm năm 2023 và 2025; tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ từ 6-59 tháng tuổi; tỷ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai./.
Hoa Đăng