
Theo BS. Trần Văn Tin – Giám đốc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh, so với năm 2015 số nhiễm mới HIV phát hiện được trong năm 2016 tăng 8,6% với 101 trường hợp; phân bố theo đối tượng riêng đối với nhóm phụ nữ bán dâm là 3%, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2015. Dịch HIV tại tỉnh Khánh Hòa vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ, phức tạp, tình trạng mại dâm khó kiểm soát, đường lây truyền qua đường tình dục là đường chủ yếu.
Một nghiên cứu giám sát các chỉ số hành vi và sinh học (IBBS) trên nhóm phụ nữ bán dâm gồm phụ nữ bán dâm đường phố và phụ nữ bán dâm nhà hàng triển khai từ 2005-2013 tại 6 tỉnh thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tp Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang của nhóm tác giả Nguyễn Anh Tuấn cùng cộng sự Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã được thực hiện 3 vòng, vòng I có 3547 đối tượng nghiên cứu, vòng 2 có 4814 đối tượng nghiên cứu và vòng 3 có 9434 đối tượng nghiên cứu phụ nữ bán dâm tham gia.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ bán dâm đường phố thành phố Hải Phòng tăng mạnh, từ 7% năm 2005 tăng lên 23% năm 2009 và 32% năm 2013. Tỷ lệ nhiễm HIV ở các địa phương khác tăng nhưng chậm hơn. Về hành vi thường xuyên sử dụng bao cao su, nhóm phụ nữ bán dâm nhà hàng thành phố Hồ Chí Minh có chiều hướng giảm. Ở An Giang, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng tỷ lệ phụ nữ bán dâm đường phố có sử dụng ma túy tăng lên. Tác giả nghiên cứu khuyến cáo cần có chiến lược tiếp cận can thiệp sử dụng bao cao su đối với các loại khách mại dâm đặc biệt là hành vi sử dụng tiêm chích an toàn đối với phụ nữ bán dâm có sử dụng ma túy.
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Duy Phúc cùng cộng sự Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh thực hiện tại 5 tỉnh khu vực phía Nam với 1542 người có tiêm chích ma túy giai đoạn 2009-2012 phát hiện có 219 người nhiễm HIV, trong đó có 68 người có quan hệ tình dục là 67,7%.
Nghiên cứu của tác giả Trần Hồng Trâm cùng cộng sự Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tìm hiểu các hành vi nguy cơ và tỷ lệ đồng nhiễm HIV, viêm gan vi rút B, viêm gan vi rút C đối với nhóm phụ nữ bán dâm gồm 299 phụ nữ bán dâm đường phố và 300 phụ nữ bán dâm nhà hàng vào năm 2013 tại thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 30 tuổi, thời gian bán dâm trung bình là 7,3 năm đối với nhóm phụ nữ bán dâm đường phố và 6 năm đối với phụ nữ bán dâm nhà hàng. Số khách mua dâm trung bình trong tuần ở cả 2 nhóm dao động từ 6-7 khách/tuần. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu thường xuyên có sử dụng bao cao su với khách lạ và khách quen khoảng 85%. Nhóm phụ nữ bán dâm đường phố đã từng tiêm chích ma túy có tỷ lệ là 10,4%; còn đối với nhóm phụ nữ bán dâm nhà hàng tỷ lệ này 14%.
Tác giả nghiên cứu cho biết tỷ lệ đồng nhiễm HIV và viêm gan vi rút B ở nhóm phụ nữ bán dâm đường phố là 2%, còn tỷ lệ đồng nhiễm HIV và viêm gan vi rút B ở nhóm phụ nữ bán dâm nhà hàng là 3,4%. Tỷ lệ đồng nhiễm HIV và viêm gan vi rút C ở nhóm phụ nữ bán dâm đường phố là 7%, nhóm phụ nữ bán dâm nhà hàng là 6,6%. Như vậy tỷ lệ đồng nhiễm HIV và viêm gan vi rút C cao hơn so với đồng nhiễm HIV và viêm gan vi rút B. Đối với tỷ lệ đồng nhiễm cả 3 gồm HIV, viêm gan vi rút B và viêm gan vi rút C ở cả 2 nhóm phụ nữ bán dâm đường phố và nhà hàng là 0,8%. Qua phân tích các yếu tố như độ tuổi lớn hơn 30, mắc viêm gan vi rút B và mắc viêm gan vi rút C là 3 yếu tố tác động đến tỷ lệ nhiễm HIV đối với đối tượng nghiên cứu.
Một nghiên cứu cắt ngang khác được thực hiện bởi tác giả Lê Xuân Huy cùng cộng sự Viện Pasteur Nha Trang gồm 900 phụ nữ bán dâm tại 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Bình Định từ tháng 5-8/2011 cho kết quả có nhiều hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV. Tỷ lệ nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu là 1,3% ở tỉnh Bình Định, 1% ở tỉnh Quảng Trị và không có trường hợp nào ở tỉnh Quảng Bình. Tác giả nghiên cứu kiến nghị cần nâng cao kiến thức về HIV/AIDS đối với nhóm đối tượng nghiên cứu, đẩy mạnh các hoạt động can thiệp để phòng chống tích cực đối với phụ nữ bán dâm ở các tỉnh miền Trung tham gia nghiên cứu.

Tại tỉnh Khánh Hòa Trung tâm LIFE phối hợp cùng Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh đang triển khai dự án tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng phòng chống HIV/AIDS trong năm 2016 đã tiếp cận can thiệp được 883 đối tượng phụ nữ bán dâm. Dự án đã cung cấp các vật phẩm giúp phòng chống HIV/AIDS như cao cao su, chất bôi trơn, bơm kim tiêm, phát hiện được những trường hợp nhiễm HIV mới thông qua công tác vận động xét nghiệm tự nguyện tại các huyện thị xã, thành phố, ngày càng phát triển tốt chiến lược can thiệp cụ thể, trao quyền chủ động để nhóm phụ nữ bán dâm có được năng lực quản lý, phát triển mô hình tiếp cận ngày càng chặt chẽ trong hệ thống CBO phòng chống HIV/AIDS hiệu quả tại cộng đồng.
Huy Hoàng