Bệnh đái tháo đường khi Glucose huyết tương lúc đói (FPG)≥7,0 mmol/L hoặc chỉ số HbA1C≥6,5%.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường tuýp 2 bao gồm tuổi trên 45; thừa cân béo phì; tăng huyết áp; bố mẹ anh chị em ruột mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2; rối loạn mỡ máu; vận động thể lực dưới 30 phút/ngày hoặc dưới 5 ngày/tuần; hút thuốc lá; phụ nữ bị buồng trứng đa nang; mắc đái tháo đường thai kỳ.
Theo các chuyên gia nội tiết, ở giai đoạn đầu người bệnh đái tháo đường thường không có triệu chứng gì. Ở giai đoạn sau người bệnh đái tháo đường có các biểu hiện đi tiểu nhiều, uống nhiều nước, ăn nhiều, sút cân không rõ nguyên nhân. Một khi có các yếu tố nguy cơ nghi ngờ mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 cần xét nghiệm máu để chẩn đoán xác định có bị mắc bệnh không.
Đái tháo đường gây ra nhiều biến chứng, biến chứng cấp tính có thể gây hôn mê; đối với biến chứng mạn tính người bệnh có thể bị tổn thương mạch máu, mờ mắt, tổn thương bàn chân, đau tim, suy thận, đột quỵ. Các chuyên gia đái tháo đường nhấn mạnh, biện pháp quan trọng nhất để dự phòng bệnh đái tháo đường là cần phải có lối sống với những hành vi tốt; thay đổi chế độ ăn uống đúng cách; tăng cường vận động thể lực; giảm cân; bỏ thuốc lá; hạn chế rượu bia. Khi mắc bệnh đái tháo đường cần được bác sĩ kê đơn, người bệnh phải uống thuốc hàng ngày và tích cực thực hiện những lời tư vấn sức khỏe, thay đổi lối sống.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, trung bình cứ 4 nam giới trưởng thành có 01 người bị tăng huyết áp; ở nữ giới trưởng thành tỷ lệ này là 1/5. Về những bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị, cứ 05 người có 01 người không được kiểm soát tốt huyết áp.
Đối với đái tháo đường, cứ 11 người có 1 người mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2. Ước tính có khoảng 422 triệu người trưởng thành trên thế giới mắc bệnh đái tháo đường.
Tại Việt Nam, điều tra năm 2015 (điều tra STEPS) cho thấy có khoảng 12,5 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp; 2,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Đối với rối loạn tâm thần có khoảng 13,5 triệu người. Như vậy tổng cộng có khoảng 32 triệu người Việt Nam, chiếm khoảng 33% dân số mắc các bệnh không lây nhiễm phổ biến. Nếu 01 xã có 8.000 dân, số người mắc bệnh tăng huyết áp từ 18 tuổi trở lên là 18,9% (khoảng 1.000 người); số người mắc bệnh tăng huyết áp mắc bệnh đái tháo đường (4,1% dân số) là khoảng 240 người.
Theo các chuyên gia bệnh tim mạch, tăng huyết áp là nguyên nhân dẫn tới hàng năm có khoảng 91.000 trường hợp tử vong, tức là cứ 5 trường hợp tử vong có 01 trường hợp liên quan đến tăng huyết áp. Còn trong 04 người trưởng thành có 01 người tăng huyết áp và 50% trường hợp tăng huyết áp tại Việt Nam chưa được phát hiện; 1/3 trường hợp tăng huyết áp không được điều trị; 86,4% trường hợp mắc bệnh tăng huyết áp chưa được quản lý tốt.
Đối với bệnh đái tháo đường, kết quả điều tra STEPS cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường của người trưởng thành ở Việt Nam là trong 100 người có 04 người mắc bệnh đái tháo đường (4,1%); đối với tỷ lệ mắc tiền đái tháo đường là 3,6%.
Như vậy có thể thấy, đối với tăng huyết áp, tỷ lệ không phát hiện được là 56,9%; tỷ lệ phát hiện được là 43,1%; tỷ lệ bệnh nhân được quản lý là 13,6%. Đối với bệnh đái tháo đường, tỷ lệ không phát hiện ra được là 68,9%; tỷ lệ phát hiện được là 31,1%; tỷ lệ bệnh nhân được quản lý là 28,9%.
Nghiên cứu STEPS cũng cho kết quả thực trạng yếu tố nguy cơ hành vi của bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam là hút thuốc lá người trưởng thành nam giới là 45,3%, uống rượu bia là 77,3%; uống rượu bia đến mức nguy hại là 44,2%; tỷ lệ nam giới ăn ít rau, trái cây là 63,1%; ở nữ giới tỷ lệ này là 51,4%. Đối với hoạt động thể lực thời gian thiếu dưới 150 phút/tuần ở nam giới tỷ lệ này là 20,2%; ở nữ giới tỷ lệ này là 35,7%. Về tiêu thụ muối hàng ngày vượt mức quy định, ăn mặn ở nam giới là 10,5 gam muối/người/ngày; ở nữ giới là 8,3 gam muối/người/ngày. Từ các yếu tố nguy cơ đó, có 4,1% người trưởng thành tăng đường máu, 15,6% người dân thừa cân, béo phì và 30,2% người dân tăng cholesterol máu toàn phần.
Đối với thực trạng quản lý tăng huyết áp tại tuyến bệnh viện tỉnh đạt tỷ lệ 27%, tuyến bệnh viện huyện đạt tỷ lệ 33,6%, tuyến trạm y tế xã đạt tỷ lệ 19%. Đối với quản lý đái tháo đường tại tuyến bệnh viện tỉnh đạt tỷ lệ 35,4%, tuyến bệnh viện huyện đạt tỷ lệ 38,5% và tuyến trạm y tế xã chỉ đạt tỷ lệ 6,2%.
Điều tra năm 2010 cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh không lây nhiễm đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế là 71,6%; năm 2012 báo cáo cho thấy cứ 10 người tử vong có hơn 7 người là do bệnh không lây nhiễm, chiếm tỷ lệ 73%; trong đó số trường hợp tử vong ở người dưới 70 tuổi chiếm tỷ lệ 43%. Theo tính toán vào năm 2010, tại Việt Nam số năm sống mất đi do tử vong sớm bởi các bệnh không lây nhiễm là 56,1%, gánh nặng bệnh tật (DALY) do bệnh không lây nhiễm là 66,3%./.
Hoa Đăng