Bạch hầu là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính có khả năng lây lan mạnh qua đường hô hấp, gây ra những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng con người.
Bạch hầu (Diphtheria) là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn bạch hầu (Corynebacterium Diphtheria) gây ra. Đây là một bệnh cấp tính với đặc trưng là hình thành lớp màng giả hay còn gọi là giả mạc ở tuyến hầu họng, tuyến hạnh nhân, niêm mạc trong mũi, thanh quản hay trên da, niêm mạc mắt, cơ quan sinh dục.
Vi khuẩn bạch hầu Corynebacterium Diphtheria là nguyên nhân gây ra bệnh và có khả năng lây từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc với dịch tiết hoặc đường hô hấp. Corynebacterium Diphtheriae là vi khuẩn gram dương hiếu khí, rất mảnh, có hình như dùi trống hoặc hình que. Sau khi vi khuẩn này bị nhiễm thực khuẩn bào có mang gen độc tố tox gene thì chúng sẽ sản xuất ra toxigenicity và gây bệnh cho cơ thể ký chủ.Vi khuẩn này có ba type gồm gravis, intermedius, và mitis. Cả ba đều có khả năng sản sinh ra độc tố để gây bệnh nhưng với mức độ giảm dần.
Nguồn truyền nhiễm và đường lây truyền bệnh bạch hầu:
Ổ chứa: ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn; đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh.
Thời gian ủ bệnh: từ 2 đến 5 ngày, có thể lâu hơn.
Thời kì lây truyền: thường không cố định. Người bệnh đào thải vi khuẩn từ thời kì khởi phát, có thể ngay từ cuối thời kì ủ bệnh. Thời kì lây truyền kéo dài khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn, ít khi trên 4 tuần. Người lành mang vi khuẩn bạch hầu có thể từ vài ngày đến 3, 4 tuần, rất hiếm trường hợp kéo dài tới 6 tháng. Điều trị kháng sinh có hiệu quả nhanh chóng sẽ chấm dứt sự lây truyền.
Phương thức lây truyền: lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp khi tiếp xúc với đồ chơi, vật dụng có dính chất bài tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu. Ngoài ra, vi khuẩn bạch hầu còn có thể xâm nhập qua da tổn thương gây bạch hầu da.
Thông thường vi khuẩn bạch hầu nhân lên ở trên bề mặt hoặc gần bề mặt màng nhầy của cổ họng. Khi người bệnh/ người lành mang vi khuẩn bạch hầu ho hoặc hắt hơi sẽ bắn ra môi trường xung quanh những giọt nhỏ có chứa mầm bệnh, những người ở gần đó có thể hít phải vi khuẩn bạch hầu. Bạch hầu lây lan nhanh chóng theo cách này, đặc biệt ở những nơi đông người...
Các biến chứng:
Hầu hết biến chứng của bạch hầu là do độc tố gây ra, thường gặp nhất là viêm cơ tim và viêm thần kinh.
Viêm cơ tim: Người bệnh sẽ thường xuyên có biểu hiện mệt mỏi, tức ngực, khó thở, rối loạn nhịp tim, ngất đột ngột. Việc điều trị biến chứng tim sẽ rất khó khăn, với các trường hợp nặng hay suy tim có thể phải sử dụng máy thở. Biến chứng có thể xảy ra vào giai đoạn toàn phát hoặc sau khi khỏi bệnh vài tuần và thường có tiên lượng xấu với tỷ lệ tử vong khá cao.
Viêm dây thần kinh: Khi vi khuẩn lưu trú trong các dây thần kinh, nhất là thần kinh vận động sẽ có các biểu hiện như liệt màn khẩu cái (ở tuần thứ ba), liệt các dây thần kinh mãn nhãn, cơ, chi, liệt cơ hoành (ở tuần thứ năm). Liệt cơ hoành cơ thể dẫn đến viêm phổi, suy hô hấp. Với biến chứng này, bệnh nhân tử vong thường do các biến chứng khác gây ra, nếu không thì vẫn có khả năng hồi phục hoàn toàn.
Theo tổ chức WHO thì đối tượng dễ bị nhiễm vi khuẩn nhất hiện nay là trẻ em, tuy nhiên, với người lớn chưa tiêm phòng cũng có thể là đối tượng nguy cơ. Do đó, bên cạnh việc tìm hiểu bạch hầu là gì thì bạn cũng cần phải biết các biện pháp phòng bệnh sau đây để bảo vệ sức khỏe của bản thân cũng như những người xung quanh:
Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc nước sát khuẩn, giữ vệ sinh thân thể, nhất là họng và mũi, rửa và súc miệng thường xuyên bằng nước muối.
Che miệng mỗi khi ho, hắt hơi, không dùng chung các vật dụng cá nhân với người bệnh, hạn chế tiếp xúc, đặc biệt là dịch tiết để tránh làm lây lan vi khuẩn.
Thường xuyên vệ sinh, sát trùng khu vực sân vườn, nhà ở, nhất là hộ có con nhỏ.
Các nhà trẻ phải đảm bảo luôn sạch, thoáng mát, có ánh nắng chiếu vào để diệt khuẩn.
Khi có bất kỳ biểu hiện nào nghi ngờ bệnh phải nhanh chóng tuân thủ các biện pháp cách ly và đến cơ sở y tế để kiểm tra.
Hồng Sơn