Theo nhận định của ThS.Nguyễn Đức Vinh- Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS), chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (CSSKBM-TE) hiện nay có nhiều tồn tại thách thức cần giải quyết. Cụ thể các chỉ số về CSSKBM-TE vẫn còn chênh lệch khá lớn giữa các vùng miền. Các chỉ số chính như tỷ số tử vong bà mẹ, tỷ suất tử vong trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở khu vực miền núi vẫn còn cao gấp 2-3 lần so với đồng bằng. Tử vong sơ sinh vẫn còn cao, theo điều tra MICS5 năm 2015 tử vong sơ sinh chiếm 82% số tử vong trẻ em dưới 1 tuổi.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi còn rất cao, đặc biệt là vùng Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc vẫn còn nhiều tỉnh có tỷ lệ cao trên 30%. Tử vong mẹ, tử vong trẻ em đã giảm khá thấp nên tốc độ giảm có xu hướng chậm lại. Mô hình tử vong mẹ có xu hướng thay đổi. Ở khu vực miền núi, tử vong mẹ chủ yếu vẫn do nguyên nhân chính là tai biến sản khoa. Ở khu vực đồng bằng, đô thị thì tử vong mẹ do nguyên nhân gián tiếp ( tim mạch, tiểu đường, nội tiết) có xu hướng tăng. Nhiều nội dung quan trọng của CSSKSS chưa được quan tâm đúng mức như ung thư cổ tử cung, CSSKSS vị thành niên/ thanh niên, dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con…
Phân tích nguyên nhân, báo cáo của Vụ Sức khoẻ Bà mẹ- Trẻ em cho rằng mạng lưới các Trung tâm CSSKSS bị xáo trộn, thiếu tính ổn định. Đến thời điểm tháng 12/2016, đã có 8/63 tỉnh, thành phố sáp nhập Trung tâm CSSKSS vào Bệnh viện Sản nhi, Bệnh viện Phụ sản, Bệnh viện Nhi hoặc vào Trung tâm CDC tuyến tỉnh ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý, chỉ đạo hệ thống cũng như việc cung cấp dịch vụ CSSKSS tới người dân.
Nhân lực về chuyên ngành sản phụ khoa và nhi khoa rất thiếu; cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt ở các bệnh viện tuyến huyện chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc điều trị cấp cứu sản khoa và sơ sinh.
Công tác giám sát của Vụ Sức khoẻ Bà mẹ- Trẻ em và các Bệnh viện đầu ngành đã được đẩy mạnh nhưng chưa thường xuyên, liên tục, sốlượng cũng như chất lượng các chuyến giám sát cần được quan tâm, chú ý hơn. Việc kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ của khu vực y tế tư nhân vẫn còn rất hạn chế.
Tiếp cận và chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh; chăm sóc sau sinh còn nhiều hạn chế, đẻ không có cán bộ có kỹ năng đỡ còn khá phổ biến ở khu vực miền núi. Công tác chăm sóc, điều trị, cấp cứu, hồi sức sản khoa, sơ sinh còn nhiều bất cập. Phá thai không an toàn, phá thai quá tuổi thai cho phép ở khu vực y tế tư nhân còn tương đối khá phổ biến.
Công tác truyền thông định hướng dư luận xã hội vẫn còn hạn chế; vẫn còn một bộ phận cán bộ cấp uỷ, chính quyền các cấp chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác chăm sóc SKSS dẫn tới việc cam kết hỗ trợ, triển khai chưa mạnh mẽ. Một số lãnh đạo Sở Y tế, Bệnh viện chưa thực sự quan tâm vào cuộc.
Hệ thống theo dõi và báo cáo thống kê chưa đảm bảo chất lượng, số liệu chưa chính xác, chưa đầy đủ và chưa kịp thời. Chất lượng số liệu thu thập cũng cần được quan tâm cải thiện. Kinh phí cho Dự án mục tiêu bị cắt giảm nhiều, phân bổ chậm (tháng 10 năm 2016 mới có thông báo kinh phí).
Riêng đối với hoạt động khám sàng lọc, tư vấn, dự phòng và điều trị vô sinh được nhiều trung tâm cơ sở CSSKSS thực hiện. Các cơ sở y tế tuyến huyện cũng như đa số các Trung tâm CSSKSS chủ yếu tập trung vào khâu sàng lọc, chẩn đoán, điều trị ban đầu. Một số Trung tâm tỉnh đã triển khai kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI). Kỹ thật hỗ trợ sinh sản bằng thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu tập trung ở tuyến tỉnh, các bệnh viện chuyên khoa và các bệnh viện Trung ương. Đến nay cả nước đã có 32 cơ sở được Bộ Y tế thẩm định công nhận đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi. Theo thống kê chưa đầy đủ của tất cả các cơ sở thụ tinh trong ống nghiệm, trong 2 năm 2015-2016, cả nước đã có hơn 18.800 ca thụ tinh trong ống nghiệm và 119 ca mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thành công.
Năm 2016, Bộ Y tế (Vụ Sức khoẻ Bà mẹ- trẻ em) đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (số 98/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016). So với Nghị định 10/2015, Nghị định này đã bổ sung các điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo một cách rõ ràng, cụ thể hơn, tạo điều kiện cho các cơ sở y tế tự theo dõi chất lượng của đơn vị, đồng thời là cơ sở để Bộ Y tế cho phép các cơ sở thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trong quý 1/2017, Vụ Sức khoẻ Bà mẹ- Trẻ em sẽ phối hợp cùng Vụ Pháp chế, Trung tâm HTSS Quốc gia, Bệnh viện Từ Dũ kiểm tra các cơ sở thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Hữu Lai