Viêm não Nhật Bản là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền qua đường máu, do loại vi rút viêm não Nhật Bản gây ra. Đây là một căn bệnh nguy hiểm, nó có thể để lại di chứng nặng nề, đặc biệt nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong.
Mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch với vi rút viêm não Nhật Bản đều có thể mắc bệnh. Ở nước ta tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm trẻ 5-9 tuổi. Chính vì vậy, việc phát hiện sớm dấu hiệu khi mắc là vô cùng quan trọng.
Vi rút viêm não Nhật Bản được truyền qua vết đốt của muỗi
Bệnh viêm não Nhật Bản lây theo đường máu, do muỗi đốt hút máu động vật nhiễm virus rồi đốt người. Virus được truyền qua vết đốt của muỗi cái, từ tuyến nước bọt có chứa virus. Năm 1938 các nhà khoa học người Nhật Bản đã tìm ra vai trò truyền bệnh của loài muỗi có tên Culex Tritaeniorhynchus, sau đó xác định được vai trò vật chủ và ổ chứa chính của virus gây bệnh là loài lợn và chim.
Ở nước ta loài muỗi này có nhiều ở miền Bắc, xuất hiện nhiều vào những tháng mùa nóng, ban ngày sống trong các bụi cây ngoài vườn, đêm bay vào nhà hút máu gia súc và đốt người, thường vào thời điểm từ 18 đến 22h. Muỗi thích đẻ trứng trong ruộng lúa, kênh mương gần nơi sinh sống.
Bệnh viêm não Nhật Bản không lây trực tiếp từ người sang người. Ăn uống chung, dùng chung đồ dùng hoặc tiếp xúc gần gũi với người bệnh cũng không làm lây nhiễm bệnh.
Triệu chứng viêm não Nhật Bản thường khá nguy hiểm do khả năng gây tổn thương ở não, để lại di chứng thần kinh nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong cao. Bệnh thường khởi phát đột ngột với các triệu chứng đầu tiên nhận thấy là sốt cao đến 39 - 40 độ C, kèm theo các cơn đau đầu, cảm giác buồn nôn và nôn. Sau đó, viêm não Nhật Bản dẫn đến dấu hiệu co giật, co cứng cơ và lú lẫn.
Triệu chứng điển hình trong giai đoạn toàn phát là các dấu hiệu rối loạn ở não, màng não và hệ thần kinh thực vật. Bên cạnh đó, bệnh nhân có biểu hiện rối loạn vận động, thể hiện chủ yếu trên khuôn mặt, bao gồm co cứng cơ mặt, cơn quay mắt quay đầu, co giật bất thường, liệt nửa người, mất khả năng ngôn ngữ.
Cáctriệu chứng viêm não Nhật Bản ở hệ thần kinh thực vật thường biểu hiện rất đa dạng nhưng lại tương đối nặng nề, như thân nhiệt dao động, da xanh tái, tăng tiết đờm dãi, tim đập nhanh, chướng bụng, nôn ói, bí tiểu, đi cầu khó, rối loạn hô hấp hay thậm chí ngừng thở đột ngột. Các triệu chứng về tâm thần chủ yếu là rối loạn ý thức với các mức độ khác nhau, từ u ám, ngủ gà, li bì cho đến hôn mê sâu.
Đối với trẻ nhỏ, những triệu chứng viêm não Nhật Bản thường không điển hình và khó phát hiện hơn. Thăm khám xác định dấu hiệu lâm sàng thường dựa vào một số triệu chứng quan trọng như là nôn ói nhiều, rối loạn nhịp thở, gồng cứng người, quấy khóc không thể dỗ nín hoặc trẻ khóc nhiều hơn mỗi khi được bế hoặc thay đổi tư thế.
Hiện tại chưa có thuốc điều trị bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ, do đó việc phòng bệnh đóng vai trò quan trọng.
Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, để ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm bệnh, người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp sau đây:
- Vệ sinh môi trường sạch sẽ, định kỳ dọn dẹp nhà ở, làm sạch chuồng gia súc để hạn chế nơi trú đậu của muỗi. Nếu có thể, nên dời chuồng gia súc ra xa nhà, xa nơi vui chơi sinh hoạt của trẻ em, loại bỏ các ổ bọ gậy, bãi nước tồn đọng.
- Nên cho trẻ ngủ mùng để tránh muỗi đốt, thường xuyên sử dụng các biện pháp để phòng chống và tiêu diệt muỗi trong các hộ gia đình.
- Thực hiện tốt việc cách ly cũng như hạn chế tiếp xúc với người bệnh và đeo khẩu trang khi chăm sóc người bệnh.
- Hiện nay đã có vắc xin phòng ngừa viêm não Nhật Bản, cha mẹ cần tiêm phòng cho bé đầy đủ và đúng lịch theo khuyến cáo của ngành y tế nhằm phòng ngừa hiệu quả nhất và an toàn cho bé.
Bệnh viêm não Nhật bản thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi trong đó thường gặp từ từ 2 đến 6 tuổi chiểm 75% nếu không được tiêm phòng. Lịch tiêm phòng viêm não Nhật Bản theo lịch cụ thể là:
- Mũi 1: Tiêm khi trẻ 1 tuổi.
- Mũi 2: Tiêm sau mũi 1 từ 1 đến 2 tuần.
- Mũi 3: Tiêm sau mũi 2 một năm.
- Sau đó, cứ 3 đến 4 năm tiêm nhắc lại 1 lần cho đến khi trẻ qua 15 tuổi.
Hiện nay, điều trị bệnh viêm não Nhật Bản chủ yếu là điều trị triệu chứng ở người bệnh, phối hợp hỗ trợ và nâng đỡ giúp nâng cao thể trạng và sức khỏe.
Trẻ nhỏ cần được điều trị tại những bệnh viện chuyên khoa có đủ phương tiện theo dõi và can thiệp kịp thời những biến chứng nguy hiểm, giúp khỏi nguy kịch và giảm đến mức thấp nhất di chứng nặng nề có thể xảy ra sau khi khỏi bệnh.
Hồng Sơn