Các em Đoàn thanh niên đang tìm hiểu về công tác dân số trong tình hình mới
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án tăng cường tư vấn và cung cấp dịch vụ Dân số - Kế hoạch hoá gia đình cho vị thành niên/thanh niên giai đoạn 2018-2020 . Thời gian thực hiện từ năm 2018 đến năm 2020. Kế hoạch Đề án được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó ưu tiên các địa phương có tỷ lệ VTN/TN cao, có nhiều khu công nghiệp, khu công nghiệp, khu thương mại, du lịch có đông lao động trẻ tuổi.
Ông Phan Văn Giáp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ cho biết Kế hoạch Đề án nhằm đáp ứng nhu cầu kế hoạch hoá gia đình của vị thành niên/thanh niên góp phần giảm tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Ba mục tiêu chính đặt ra, thứ nhất về vấn đề kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hiện về KHHGĐ. Nâng lên 65% VTN/TN hiểu biết cơ bản về một số vấn đề Dân số-KHHGĐ, sức khỏe sinh sản (SKSS) như các biện pháp tránh thai; tư vấn và khám sức khoẻ tiền hôn nhân; hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh; tác hại của tảo hôn, hôn nhân cận huyết; luật hôn nhân và gia đình…Thứ hai tăng cường cung cấp dịch vụ Dân số-KHHGĐ phải đáp ứng 80% cho VTN/TN có nhu cầu, giảm 30% số VTN/TN có thai ngoài ý muốn, tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ Dân số-KHHGĐ thân thiện với VTN/TN lên 30% tại địa bàn triển khai vào năm 2020. Thứ ba môi trường gia đình, xã hội thân thiện đối với VTN/TN được cải thiện, 100% cấp uỷ Đảng, chính quyền có văn bản chỉ đạo tạo môi trường xã hội thân thiện, ủng hộ VTN/TN, 60% cha mẹ có con trong tuổi VTN/TN ủng hộ, hướng dẫn, hỗ trợ con cái chủ động tìm hiểu thông tin, kiến thức và tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ Dân số-KHHGĐ.
Bên cạnh đó, Đề án cũng đưa ra nhiều giải pháp thiết thực. Về công tác chỉ đạo, điều hành, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền đối với công tác DS-KHHGĐ cho VTN/TN. Bên cạnh đó, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông và cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho VTN/TN bao gồm những cán bộ trong hệ thống DS-KHHGĐ và các cơ quan tổ chức có liên quan trong việc phối hợp thực hiện. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Đề án. Tăng cường phối hợp với các đơn vị, cá nhân tổ chức có liên quan trong thực hiện kế hoạch, báo cáo, kiểm tra, giám sát đảm bảo Kế hoạch được thực hiện đúng, hiệu quả. Giải pháp truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi, tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về DS-KHHGĐ đối với VTN/TN cho cộng đồng. Triển khai có hiệu quả các hoạt động với nội dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với VTN/TN trong đó đặc biệt lưu ý đến nhóm yếu thế, tăng cường các hoạt động truyền thông về DS-KHHGĐ trong các nhà trường, các khu công nghiệp…. Phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội thực hiện truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi. Tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại như internet, truyền thông đa phương tiện, điện thoại di động…; thí điểm các mô hình truyền thông thân thiện, phù hợp với VTN/TN. Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Dân số-KHHGĐ thì nâng cao chất lượng dịch vụ DS-KHHGĐ cho VTN/TN tại tất cả các cơ sở cung cấp dịch vụ; nâng cấp cơ sở hạ tầng, bổ sung trang thiết bị và tập huấn cập nhật kiến thức cho những người cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho VTN/TN. Nâng cao chất lượng hệ thống hậu cần, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện tránh thai và hàng hóa sức khỏe sinh sản cho VTN/TN. Tăng cường chất lượng cung cấp các dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh, tật trước khi sinh và sơ sinh. Thí điểm các mô hình cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ thân thiện, phù hợp với VTN/TN. Giải pháp tạo môi trường gia đình, xã hội thân thiện với VTN/TN, tích cực rà soát, nghiên cứu, đề xuất xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về DS-KHHGĐ cho VTN/TN. Cơ chế hỗ trợ VTN/TN dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, vùng khó khăn, nhóm yếu thế về tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ DS-KHHGĐ một cách bình đẳng, thân thiện. Cơ chế hỗ trợ cán bộ tư vấn, cán bộ kỹ thuật khám sức khỏe tiền hôn nhân, khám phát hiện bệnh dị tật bẩm sinh và các yếu tố nguy cơ đến bệnh tật bẩm sinh; tăng cường xã hội hóa trong việc cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ cho VTN/TN. Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, truyền thông giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi của các bậc làm cha mẹ, gia đình và cộng đồng xã hội về DS-KHHGĐ đối với VTN/TN, xóa bỏ các quan niệm lạc hậu, không phù hợp.
Cung cấp thông tin, vận động, huy động các chức sắc, tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng tham gia truyền thông DS-KHHGĐ, thay đổi quan niệm không tích cực với VTN, TN, ủng hộ VTN, TN được chú trọng tìm hiểu thông tin, kiến thức và kỹ năng thực hiện các dịch vụ DS-KHHGĐ và giáo dục lối sống lành mạnh cho VTN/TN. Cung cấp thông tin và vận động các tổ chức xã hội, đơn vị, doanh nghiệp thực hiện các biện pháp bảo đảm cho VTN, TN được chủ động tìm hiểu thông tin, kiến thức, thực hiện dịch vụ DS-KHHGĐ; tham gia công tác truyền thông, cung cấp dịch vụ trong khả năng cho phép. Tăng cường xã hội hóa trong việc cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ cho VTN, TN. Đề xuất xây dựng các cơ chế tiếp thị xã hội, cơ chế thị trường, huy động nguồn lực nhằm huy động sự đóng góp của VTN/TN, giảm bớt áp lực đối với ngân sách Nhà nước; xác nhận điểm cung cấp dịch vụ thân thiện đối với VTN, TN…Về giải pháp tài chính, tăng đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước, đẩy mạnh việc đa dạng hóa các nguồn đầu tư cộng đồng, doanh nghiệp và tư nhân. Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư.“Trước mắt, trong năm 2018, chi cục sẽ chuẩn bị tài liệu, tập huấn kiến thức cho người làm công tác truyền thông và cung cấp dịch vụ cho VTN-TN; xây dựng các mô hình truyền thông và cung cấp dịch vụ chuyên biệt cho VTN-TN. Sau đó, thực hiện thí điểm tại TP. Nha Trang, TP. Cam Ranh và thị xã Ninh Hòa”, ông Giáp cho biết.
Trang Nguyễn