Ngày 13/7/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 68/CĐ-TTg chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác phòng chống bệnh bạch hầu.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn triển khai các biện pháp phòng chống bệnh bạch hầu; chủ động công tác giám sát phát hiện, xử lý sớm ổ dịch; tổ chức tiêm chủng vắc xin, điều trị để bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng người bệnh.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ sở giáo dục triển khai các họat động vệ sinh phòng bệnh, bảo đảm môi trường thông thoáng, sạch sẽ, tổ chức theo dõi sức khỏe trẻ em, học sinh, sinh viên và thông báo ngay cho cơ sở y tế khi phát hiện trường hợp nghi ngờ mắc bệnh để được cách ly, xử trí kịp thời.
Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh bạch hầu theo khuyến cáo của ngành y tế, hướng dẫn người dân khi có dấu hiệu bệnh phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn, điều trị kịp thời.
Tổ chức tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu cho các nhóm đối tượng theo hướng dẫn của Bộ Y tế, nhất là tại các địa bàn có lưu hành bệnh hoặc nơi có tỉ lệ tiêm vắc xin bạch hầu thấp.
Các tỉnh cần theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, chủ động giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh để xử lý triệt để ổ dịch, điều trị kịp thời và thực hiện tốt việc thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân. Bảo đảm hậu cần, thuốc, vắc xin, thiết bị, vật tư, hóa chất phục vụ công tác phòng chống bệnh bạch hầu theo phương châm 4 tại chỗ.
Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm, nhiễm độc cấp tính do vi khuẩn bạch hầu gây nên, tỉ lệ tử vong 5-10%.
Bệnh lây trực tiếp do hít phải chất tiết từ đường hô hấp của người bệnh thông qua các giọt nước nhỏ li ti phát ra khi ho, hắt hơi, nói chuyện.
Vi khuẩn bạch hầu có thể tồn tại trên bề mặt của các đồ vật xung quanh người bệnh từ vài ngày đến vài tuần như trong sữa, nước uống sống đến 20 ngày, trong tử thi sống được 2 tuần.
Nguồn lây của bạch hầu là người bệnh hoặc người lành mang mầm bệnh. Bệnh thường lây ở cuối thời kỳ ủ bệnh hoặc ngay khi khởi phát bệnh, có thể kéo dài từ 2-4 tuần. Trung bình sau khi hít phải vi khuẩn 2-5 ngày, người sẽ phát bệnh.

(Triệu chứng của bệnh bạch hầu)
Triệu chứng bệnh chủ yếu là viêm họng, có lớp màng giả màu trắng do các tế bào bị viêm bám vào trong vòm họng, bệnh có những biến chứng như viêm tai giữa, viêm phổi do liệt cơ hoành.
Khi bệnh tiến triển nặng, xuất hiện triệu chứng khó thở, khó nuốt, thay đổi thị lực, nói lắp.
Các độc tố bạch hầu khi ngấm vào máu sẽ gây tình trạng nhiễm độc toàn thân, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động, ngoại biên, thần kinh cảm giác, gây viêm cơ tim, loạn nhịp tim, dẫn đến tử vong.
Về nguy cơ nhiễm bệnh, bất cứ người nào tiếp xúc với mầm bệnh đều có thể bị lây nhiễm, nhất là trẻ nhỏ, người cao tuổi, người có miễn dịch yếu.
Người đã tiêm vắc xin bạch hầu hoặc đã từng mắc bệnh trong quá khứ vẫn có khả năng nhiễm lại do cơ thể không tạo ra khả năng miễn dịch hoặc khả năng miễn dịch giảm dần theo thời gian.
Để phòng bệnh bạch hầu, gia đình cho trẻ đi tiêm vắc xin đầy đủ, thường xuyên vệ sinh tay, che miệng khi ho, hắt hơi, giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày. Hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh. Người dân trong ổ dịch cần chấp hành nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc xin phòng bệnh, hạn chế tụ tập đông người theo yêu cầu của ngành y tế.
Các chuyên gia lưu ý, bạch hầu có thể gây tử vong trong 6-10 ngày. Bệnh bạch hầu có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi, bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục.
Biến chứng thường gặp nhất là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh. Biến chứng viêm cơ tim có thể xảy ra ở giai đoạn toàn phát hoặc chậm vài tuần sau khi khỏi bệnh. Khi viêm cơ tim xuất hiện sớm trong những ngày đầu của bệnh, tỉ lệ tử vong thường rất cao.
Vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae là nguyên nhân gây bệnh bạch hầu. Dưới ánh sáng mặt trời, vi khuẩn chết sau vài giờ. Ở nhiệt độ 58 độ C, vi khuẩn sống được 10 phút, ở môi trường phenol 1% và cồn 60 độ có thể sống được 1 phút.
Thời gian ủ bệnh thường 2-5 ngày, có thể lâu hơn. Thời kỳ lây truyền bệnh không cố định, có thể 2 tuần hoặc ngắn hơn, ít nhất là trên 4 tuần. Người bệnh đào thải vi khuẩn từ thời kỳ khởi phát hoặc cuối thời kỳ ủ bệnh. Người lành mang vi khuẩn bạch hầu từ vài ngày đến 3-4 tuần. Bất cứ tuổi nào cũng có thể mắc bệnh bạch hầu.
Có nhiều thể bệnh như bạch hầu mũi trước, bạch hầu hầu họng và amidan, bạch hầu thanh quản. Bạch hầu thanh quản là thể bệnh tiến triển nhanh và nguy hiểm. Bệnh nhân có dấu hiệu sốt nhẹ, khàn tiếng, ho, các giả mạc tại thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được điều trị kịp thời, các giả mạc gây tắc đường thở làm bệnh nhân suy hô hấp và tử vong nhanh chóng./.
Anh Huy