Hiện nay chênh lệch mức sinh giữa các vùng trong tỉnh là rất lớn. Vấn đề này đã gây ảnh hưởng không
nhỏ đến quy mô, chất lượng dân số toàn tỉnh.
Mức sinh vùng cao vùng thấp
Theo thống kê của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tỉnh, tỷ suất sinh chung trên toàn tỉnh hiện nay là 15,3 %o. Tuy nhiên, ở miền núi tỷ số này lại khá cao. Cụ thể, Khánh Sơn, tỷ suất sinh toàn huyện là 19,53%o ; Khánh Vĩnh, tỷ suất sinh toàn huyện là 19.66%o. Trong khi đó, tỷ suất sinh ở đồng bằng lại khá thấp. Cụ thể, Nha Trang có tỷ suất sinh là 10,71%o. các huyện Cam Lâm, Cam Ranh, Vạn Ninh, Ninh Hòa giao động ở mức 9%o đến 11.5%o.
Bên cạnh đó, số con trung bình/1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ toàn tỉnh là 1, 84 con/1 phụ nữ. Ở huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh từ 2,5 đến 2.8 con/phụ nữ. Thậm chí một số xã lên tới 5,0 con/phụ nữ, nhất là ở các xã có đông đồng bào dân tộc thiếu số như Giang Ly, Sơn Thái (huyện Khánh Vĩnh) xã Thành Sơn, Sơn Trung, Ba cum Bắc (huyện Khánh Sơn). Trong khi đó, tại TP. Nha Trang, huyện Diên Khánh, tỷ số này là 1,5 con/1 phụ nữ. Thậm chí có xã còn thấp hơn như: thị trấn Diên Khánh (huyện Diên Khánh), phường Phước Tiến, phường Lộc Thọ (Nha Trang) chỉ có 1,3con /1 phụ nữ.
Đáng chú ý hơn, gần đây có thêm sự chênh lệch rõ nét mức sinh trong phạm vi nhỏ hơn, đó giữa các khu vực trong một huyện, thị. Điển hình huyện Vạn Ninh có 13 xã, trong đó có 10 xã biển, 1 xã miền núi, 2 xã đồng bằng, mức sinh giữa 3 vùng có khoảng cách rõ rệt. Cụ thể năm 2015, tỷ suất sinh toàn huyện 10,76%o. Trong đó, tỷ suất sinh ở đồng bằng như thị trấn Vạn Giã là 11,67%o; vùng núi như Xuân Sơn là 12,38%o; vùng biển đảo như Vạn Thạnh, Vạn Khánh lên đến 18,40%o. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên toàn huyện là 8,37% . Nhưng đồng bằng là 7,88%; vùng nông thôn 9%; vùng hải đảo là 10%.
Nguyên nhân chính của chênh lệch mức sinh là bởi do phong tục tập quán, nhu cầu công việc, trình độ dân trí của các vùng khác nhau. Anh Nguyễn Kia - một người dân vùng biển ở Tân Đức Đông - xã Vạn Lương – Vạn Ninh cho rằng, nhà anh có 4 người con 2 trai 2 gái là còn ít so với các gia đình khác. Bởi theo anh Kia, một gia đình nghề biển cần nhiều lao động hơn thế. Điều đó giải thích vì sao, vợ anh hiện vẫn chưa chịu áp dụng bất cứ một biện pháp tránh thai nào. Ngược với quan điểm anh Kia, chị Nguyễn Thị Hiếu – ở phường Phước Tân- Nha Trang thì cho rằng không nên sinh nhiều mà hãy dành thời gian, kinh tế để đầu tư cho con cái ăn học nên người. Vì thế dù mới có 1 đứa con cái nhưng chị nhất quyết dừng sinh “chia sẻ gia đình chị có một bé gái năm nay cháu học lớp 6, mặc dù gia đình khá giả nhưng anh chị quyết không sinh thêm vì muốn dành thời gian và tiền bạc đầu tư cho con gái ăn học thành tài. “Đáp ứng nhu cầu cuộc sống tối thiểu hiện nay cho một đứa trẻ phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần là không phải là dễ. Hai vợ chồng tuy có công việc và thu nhập ổn định, nhưng với thời gian làm việc liên tục, lương nhân viên thấp, nếu thêm thành viên mới cuộc sống sẽ gặp khó khăn”- chị Hiếu nói.
Giảm chất lượng dân số
Hiện nay, gia đình nhỏ, ít con dần trở nên phổ biến ở thành thị và đồng bằng. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, nếu để mức sinh giảm xuống quá thấp, tổng tỷ suất sinh chỉ khoảng 1,35 con/phụ nữ, đến năm 2050 quy mô dân số nước ta sẽ vào khoảng 95 triệu -100 triệu người. Nếu để mức sinh tăng trở lại, tổng tỉ suất sinh có thể lên tới 2,3-2,5 con/phụ nữ, thì đến năm 2050, quy mô dân số nước ta sẽ ở mức quá cao, khoảng 130 triệu -140 triệu người. Điều này sẽ gây ra áp lực lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu nhân khẩu học của đất nước.
Năm 2011, tỉnh Khánh Hòa đã đạt mức sinh thay thế nhưng chưa thật ổn định trong những năm gần đây. Với mục tiêu giảm tỷ suất sinh 0.2%o/năm thì những huyện miền núi 10 năm nữa mới đạt mức sinh thay thế. Ngược lại ở đồng bằng, mức sinh sẽ xuống quá thấp, già hóa dân số diễn ra nhanh, thiếu nguồn nhân lực trong tương lai, tạo gánh nặng cho phát triển kinh tế.
Bà Trần Thị Kim Oanh- Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục DS-KHHGĐ cho biết, những vùng có mức sinh cao khó khăn về kinh tế, y tế, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên chất lượng dân số thấp hơn nhiều so các huyện đồng bằng. Tỷ lệ suy dưỡng ở trẻ em lên tới 30%, cao gấp 3 lần mặt băng chung toàn tỉnh. Vì thế, việc chủ động kéo gần mức sinh giữa các vùng miền để có được một quy mô dân số phù hợp, xã hội phát triển đồng đều, đó là việc làm cần thiết, nên có những giải pháp cụ thể cho từng vùng. Đối với miền núi, miền biển, vùng khó khăn vẫn chưa đạt mức sinh thay thế, cần tăng cường truyền thông, cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ, tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền cơ sở, đôn đốc các ban, ngành, đoàn thể các cấp cùng vào cuộc. Nhà nước nên có thêm những chính sách an sinh xã hội ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, có những chính sách giảm sinh tốt để đưa về mức sinh thay thế. Đối với những địa phương đã duy trì được mức sinh thay thế thì tiếp tục duy trì mức sinh như hiện nay; đồng thời tập trung thực hiện các chương trình, dự án để từng bước nâng cao chất lượng dân số, khống chế sự gia tăng tỷ số giới tính khi sinh. Với những địa phương hiện ở mức sinh thấp, thì cần có những chính sách phù hợp để khuyến khích mỗi gia đình sinh đủ hai con.
Năm 2016, mục tiêu chính của ngành Dân số tỉnh là duy trì mức sinh thấp hợp lý, ổn định quy mô dân số ở mức không quá 1,283 triệu người vào năm 2020. Để làm được điều này Chi cục phải nỗ lực duy trì tổng tỷ suất sinh từ 1,5 đến 2 con/phụ nữ; có giải pháp kiểm soát tốt mức sinh từng địa phương . Bên cạnh đó sẽ ở rộng các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như Sàng lọc trước sinh và sơ sinh; Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; chăm sóc người cao tuổi đựa vào cộng đồng; Kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, khống chế mức tăng tỷ số giới tính khi sinh, không vượt quá 110 trẻ trai/100 trẻ gái. Khi đó, quy mô dân số sẽ ổn định, cơ cấu tuổi của dân số sẽ cân bằng và giảm dần được sự chênh lệch bất lợi mức sinh, đồng thời sẽ phát huy được nhiều hơn nữa các lợi thế của dân số.
Thảo Nhi