[Đăng ngày: 15/06/2015]
Mục tiêu 1 của chiến lược Dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 là đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Chỉ tiêu đặt ra là đảm bảo tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái. 100% cơ sở y tế cam kết không thông báo giới tính thai nhi và không loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính.
Theo báo cáo Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Khánh Hòa, tỷ số giới tính giữa trẻ sơ sinh trai/trẻ sơ sinh gái tăng trong những năm gần đây. Năm 2012, tỷ số giới tính là 104 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái; năm 2013 tỷ số này là 109/100; năm 2014, tỷ số giới tính là 107/100. Với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh có xu hướng tăng lên sẽ tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai.
Nghị định 104/2003/NĐ-CP (ban hành ngày 16/9/2003) là văn bản pháp luật hướng dẫn việc thực thi Pháp lệnh Dân số (được Quốc hội thông qua ngày 09/01/2003). Mục tiêu của Nghị định này là hướng dẫn việc thi hành Pháp lệnh Dân số, nhằm ổn định quy mô, cấu trúc và chất lượng dân số, bao gồm cả việc ổn định tỷ số giới tính khi sinh.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức chuyên môn, các tổ chức kinh tế, quân đội, công dân và các tổ chức nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
Nội dung liên quan tới cấm chẩn đoán và lựa chọn giới tính trước sinh được quy định cụ thể trong Điều 10, chương 2. Theo đó, việc xác định giới tính trước sinh dưới mọi hình thức và với bất cứ phương pháo nào đều bị nghiêm cấm. Đặc biệt những trường hợp sau: tuyên truyền và quảng bá những sản phẩm có chứa các thông tin liên quan tới việc tạo giới tính, thay đổi và chẩn đoán giới tính thai nhi; Chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp sau: xác định qua triệu chứng/dấu hiệu, bắt mạch, xét nghiệm máu, gen, tế bào, siêu âm,…; Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng bất kỳ biện pháp nào kể cả dùng thuốc.
Để hỗ trợ việc tăng cường Nghị định 104, quy định bổ sung để xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm các vấn đề về dân số và trẻ em (Nghị định 114/NĐ-CP). Trong Nghị định này có một chương quy định cụ thể hình thức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, bao gồm phạt tiền, đình chỉ hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ, tiêu hủy các tài liệu (sách, tạp chí,v.v…). Tiếp sau đó, Bộ Y tế và Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây đã soạn thảo một loạt các công văn nhằm hướng dẫn cũng như tăng cường việc thực hiện Nghị định ở các tuyến.
Một nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà và Đỗ Thị Hạnh Trang – Trường Đại học Y tế công cộng “phân tích quá trình thực hiện chính sách cấm chẩn đoán giới tính trước sinh tại Việt Nam” từ năm 2011-2013 cho thấy việc thực hiện Nghị định 104 nói trên đã có nhiều hoạt động khác nhau đã được Tổng cục Dân số - KHHGĐ cùng với Bộ Y tế và các ban ngành liên quan khác như ngành giáo dục, Hội Phụ nữ, ngành văn hóa và truyền thông đã triển khai nhằm thực thi quy định.
Ở cấp quốc gia, trong những năm trở lại đây, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã được quan tâm nhiều hơn, thông qua việc tổ chức các hội thảo quốc gia và xây dựng các dự án nhằm đảm bảo cân bằng giới tính. Tổng cục dân số đã đề xuất và triển khai các đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2009-2011 cho 11 tỉnh có tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức cao nhất, trong năm 2011 đề án đã được mở rộng ra 43 tỉnh.
Ở tuyến cấp tỉnh và quận/huyện, có một số hoạt động đã được triển khai, tuy nhiên, các hoạt động này chỉ được thực hiện ở tỉnh phía Bắc – do được hưởng đề án “giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh”, còn tại tỉnh phía Nam, chưa có hoạt động nào cụ thể nhằm thực hiện Nghị định này. Các hoạt động được triển khai tại các tỉnh phía Bắc như phối hợp giữa các ban ngành trong tỉnh triển khai các hoạt động truyền thông về các nguy cơ do mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh, thúc đẩy hoạt động các câu lạc bộ “Không sinh con thứ ba”. Các chỉ số liên quan đến vấn đề dân số được đưa vào để xét duyệt tiêu chuẩn “gia đình văn hóa” hoặc “làng văn hóa” tại địa phương. Ngành Y tế và văn hóa cũng kiểm tra sự tuân thủ quy định của các cơ sở y tế cũng như các cơ sở kinh doanh ấn phẩm văn hóa, tuy nhiên, chỉ khoảng 5-6 trường hợp không tuân thủ được phát hiện trên cả nước. Còn tại tỉnh phía Nam, ngược lại với sự triển khai tại tỉnh phía Bắc, việc triển khai ở đây khá bị động.
Sự tham gia của các ban ngành khác (ví dụ như truyền thông đại chúng, tư pháp, giáo dục – đào tạo) cũng rất hạn chế do vấn đề này được cho là nhiệm vụ chính của ngành dân số, các cơ quan khác đã rất bận rộn với công việc của họ. Chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các ban ngành liên quan.
Ở cấp xã, thậm chí ngay tại tỉnh phía Bắc, nơi có triển khai đề án, cũng không có các hoạt động cụ thể nào nhằm kiểm soát việc lựa chọn giới tính khi sinh. Mặc dù quy định về cấm chẩn đoán và lựa chọn giới tính trước khi sinh đã được ban hành từ năm 2003, một số Trạm Y tế đến năm 2009 mới nhận được những thông tin này từ Phòng Y tế huyện.
Về nguồn lực để triển khai Nghị định này, trong nội dung của Nghị định 104, có một chương quy định trách nhiệm Bộ Tài chính, UBND, HĐND các cấp có trách nhiệm xây dựng cơ chế tài chính. Tuy nhiên trong thực tế không có nguồn ngân sách dành riêng cho quy định này. Tất cả các hoạt động liên quan tới các quá trình của Nghị định đều được coi là một phần của những hoạt động thường xuyên của ngành Dân số - KHHGĐ nói riêng và y tế nói chung.
Thực tế trên cho thấy, bức tranh về việc thực hiện quy định rất khác nhau giữa các tỉnh có và không có dự án. Điều đó chứng tỏ nguồn ngân sách dành cho hoạt động này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc liệu quy định có được đưa vào thực hiện trên thực tế hay không.
Năm 2012, Tổng cục Dân số đã đề xuất lên Chính phủ đề án can thiệp giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cho giai đoạn 2013-2020. Một trong những biện pháp nhân văn chính trong đề án can thiệp này là có nhiều hỗ trợ cho gia đình sinh con một bề là gái. Tuy nhiên cho đến khi nghiên cứu này tiến hành, đề án vẫn chưa được thực hiện do thiếu kinh phí. Bên cạnh đó, việc ưu tiên hỗ trợ cho gia đình sinh con một bề là gái cũng gặp nhiều ý kiến trái chiều, nhiều người cho rằng việc ưu tiên hỗ trợ như vậy sẽ khiến cho người ta nghĩ rằng sinh con gái là thiệt thòi và có thể lại tiếp tục kích thích người dân sinh con trai./.
Phương Thảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 32

Số lượt truy cập: 9353483

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang