
Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em Bộ Y tế; năm 2015 tỷ lệ % phụ nữ sinh đẻ được quản lý ước đạt 96,7%; tỷ lệ % đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 98%; tỷ lệ bà mẹ được khám sau đẻ đạt 90,8%; tai biến sản khoa 8.698 trường hợp, tăng 200 trường hợp so với năm 2014; tỷ số phá thai (trên 100 ca đẻ sống) đạt 0,17.
PGS.TS Lưu Thị Hồng- Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em cho biết bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên và những năm tiếp theo công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn cần giải quyết.
Về hoạt động chuyên môn, còn có sự khác biệt khá lớn về tử vong mẹ, tử vong trẻ em và tử vong sơ sinh giữa các vùng miền và các nhóm dân tộc; xu hướng này vẫn chưa được cải thiện trong 15 năm qua. Các cuộc điều tra tử vong mẹ thời điểm 2001-2001, 2006-2007 và số liệu báo cáo thống kê hệ sức khỏe sinh sản hàng năm cho thấy tử vong mẹ ở miền núi vẫn cao gấp khoảng 3 lần so với vùng đồng bằng và ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 4 lần so với nhóm người Kinh/ Hoa. Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi và tử vong sơ sinh ở miền núi cũng gấp từ 2-3 lần so với vùng đồng bằng. Điều đáng chú ý là sự khác biệt về tử vong trẻ em ở đồng bào dân tộc thiểu số và người Kinh/ Hoa thậm chí còn có xu hướng tăng lên. Theo điều tra Đánh giá các mục tiêu phụ nữ và trẻ em MICS3 (2006), MICS4 (2011), MICS5 (2014); nếu ở thời điểm 2006, tử vong trẻ em dưới 1 tuổi trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số còn ở mức gấp 1,35 lần so với nhóm Kinh/Hoa thì đến năm 2011 đã gấp 3 lần và đến năm 2014 đã gấp đến 4,3 lần.
Tốc độ giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ em đã chậm lại. Tử vong mẹ, tử vong trẻ em trong những năm gần đây đã xuống khá thấp, vì vậy tốc độ giảm đã chậm lại. Nếu ở giai đoạn 1990-2009, tốc độ giảm trung bình đối với tử vong mẹ là 10/100.000 mỗi năm, thì giai đoạn 2009-2015 chỉ còn 2-2,5/100.000. Đối với tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, tốc độ giảm hàng năm ở giai đoạn 2005-2014 chỉ còn 0,5-0,6‰ so với 2‰ trong giai đoạn 1990-2004. Nếu không được đầu tư thỏa đáng và triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp thì sẽ khó có thể đạt được mục tiêu của Chiến lược Dân số/SKSS Việt Nam 2011-2020 và duy trì được các mục tiêu thiên niên kỷ về sức khỏe bà mẹ- trẻ em (SKBM-TE), đặc biệt là mục tiêu thiên niên kỷ số 4 giảm tử vong trẻ em < 5 tuổi xuống còn 19,3‰ vào năm 2015.
Tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp còn rất cao ở miền núi và chưa có xu hướng giảm. Ở vùng đồng bằng và thành thị, tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp đã có xu hướng giảm đi. Tuy nhiên, qua thống kê nguyên nhân tử vong mẹ theo hệ thống thẩm định từ năm 2011 đến nay, nguyên nhân trực tiếp tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc cũng như Tây Nguyên vẫn còn chiếm đến 70% trong tổng số tử vong mẹ tại các vùng này. Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra tử vong mẹ- tử vong sơ sinh tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc cuối năm 2015, tử vong mẹ do nguyên nhân trực tiếp chiếm tỷ lệ rất cao (81,5%) cao hơn đáng kể so với con số cả nước năm 2006-2007 (71,5%) và tương đương với kết quả điều tra tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên năm 2008 (81,2%). Trong số các nguyên nhân trực tiếp, băng huyết là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong mẹ (57,1%), tương đương với con số tử vong mẹ ở miền núi giai đoạn 2000-2001 và cao hơn một chút so với số liệu giai đoạn 2006-2007 (49%) và số liệu thống kê năm 2014 ở vùng miền núi phía Bắc (48%).
Chậm 1 và chậm 3 vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo điều tra tử vong mẹ- tử vong sơ sinh tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc năm 2015, có tới 83% số ca tử vong mẹ có liên quan đến chậm 1 (chậm nhận ra dấu hiệu nguy hiểm), chủ yếu là do nhận thức của bà mẹ và gia đình còn quá hạn chế. Điều này cho thấy chương trình truyền thông làm mẹ an toàn cần được chú trọng nhiều hơn, đặc biệt là về việc nhận biết sớm các dấu hiệu nguy hiểm cho phụ nữ trước, trong và sau sinh.
Yếu tố chậm 3 xuất hiện trong tổng số 64,3% số ca tử vong mẹ (chậm tiếp nhận điều trị đầy đủ và thích hợp), phản ánh rõ rệt hạn chế về chất lượng chăm sóc sản khoa hiện tại. Trong đó, có thể nhận định hai điểm quan trọng: (1) năng lực khám, chẩn đoán, tiên lượng, xử trí còn yếu; (2) không tuân thủ quy trình khám, theo dõi, chăm sóc, điều trị, dẫn đến không phát hiện được tai biến hoặc phát hiện muộn, xử trí không đúng. Vì vậy, việc tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cấp cứu sản khoa cũng như giám sát để đảm bảo cán bộ y tế tuân thủ đúng quy trình chuyên môn là một nhu cầu cấp thiết trong thời gian tới.
Không đạt mục tiêu thiên niên kỷ số 4 về tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, tử vong sơ sinh chiếm tỷ lệ cao trong tử vong trẻ em. Việt Nam đã đạt chỉ tiêu về tử vong trẻ < 1 tuổi, nhưng chúng ta không đạt chỉ tiêu về tử vong trẻ < 5 tuổi. Tử vong sơ sinh còn khá cao; theo số liệu báo cáo thường quy hệ SKSS, tử vong sơ sinh chiếm gần 70% số tử vong trẻ em < 1 tuổi và 50% tử vong trẻ em < 5 tuổi. Tuy nhiên, theo điều tra đánh giá các mục tiêu phụ nữ và trẻ em Việt Nam sang năm 2014 (MICS5), tử vong sơ sinh chiếm đến 82% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 60% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi. Tử vong sơ sinh cao chứng tỏ công tác chăm sóc trước sinh cũng như chăm sóc, điều trị, cấp cứu, hồi sức trong cuộc đẻ và chăm sóc ngay sau sinh đối với trẻ sơ sinh vẫn còn cần phải được cải thiện.
Tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ và phụ nữ mang thai còn cao (0,23%). Hàng năm số phụ nữ mang thai có HIV(+) là khoảng 2.000.000 bà mẹ mang thai. Ước tính ở Việt Nam có khoảng 4.600 bà mẹ mang thai có HIV (+). Như vậy, nếu không có can thiệp phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con thì mỗi năm nước ta có khoảng 1.400 trẻ em có nguy cơ nhiễm HIV từ mẹ. Vấn đề này vẫn cần được quan tâm, đầu tư thỏa đáng trong những năm tới, vì dự phòng lây truyền mẹ con mang lại hiệu quả không chỉ về y học và còn mang tính nhân văn cao.
Nhiều nội dung của CSSKSS còn chưa được triển khai rộng rãi. Sàng lọc phát hiện sớm ung thư đường sinh sản (ung thư cổ tử cung, ung thư vú); CSSKSS/ sức khỏe tình dục cho nhóm đối tượng đặc thù (vị thành niên/ thanh niên, người cao tuổi, nam giới, người di cư, công nhân ở các khu công nghiệp..) chưa được quan tâm đúng mức. Chưa có chương trình kế hoạch hóa gia đình dành riêng cho nhóm đối tượng vị thành niên/ thanh niên và người chưa lập gia đình.
Hoa Phượng